vanban.org

Bản án 48/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Thái Thị Diễm M và ông Võ Chí K.

Về nuôi con: Có một người con chung tên Võ Chí P, sinh ngày 21/01/2019 (nam). Hiện nay, cháu P đang chung sống với ông K. Khi ly hôn, giao cháu Võ Chí P cho ông Võ Chí K trực tiếp nuôi dưỡng. Bà M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Thái Thị Diễm M và ông Võ Chí K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29–6–2023
V/v tranh chấp “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Diệu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tạ Huyền Thanh;

Ông Đặng Thùy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Công là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Thái Thị Diễm M, sinh năm 1999 (xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp Ông T, xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Võ Chí K, sinh năm 1997 (xin vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp N, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 4 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - Bà Thái Thị Diễm M trình bày yêu cầu:

Về hôn nhân: Bà Thái Thị Diễm M và ông Võ Chí K có thời gian tìm hiểu và kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2018, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Lý do ly hôn: Lúc đầu hôn nhân hạnh phúc, đến năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông K không chung thủy chế độ một vợ một chồng, vợ chồng thường hay cự cải và ly thân từ đó đến nay. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài nên bà M yêu cầu ly hôn với ông Võ Chí K.

Về nuôi con: Có một người con chung tên Võ Chí P, sinh ngày 21/01/2019 (nam). Hiện nay, cháu P đang chung sống với ông K. Khi ly hôn, bà M giao cháu P cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng, việc cấp dưỡng nuôi con tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về chia tài sản, nợ thu và nợ trả: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại Đơn xin vắng mặt đề ngày 19 tháng 6 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – Ông Võ Chí K trình bày yêu cầu:

Về hôn nhân: Ông K đồng ý ly hôn với bà Thái Thị Diễm M.

Về nuôi con: Có một người con chung tên Võ Chí P, sinh năm 2022 (nam). Hiện nay, cháu P đang chung sống với ông K. Khi ly hôn, ông K yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản, nợ thu và nợ trả: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa:

Bà Thái Thị Diễm M và ông Võ Chí K đều vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng

Bà Thái Thị Diễm M yêu cầu ly hôn với ông Võ Chí K, giao con cho ông K nuôi dưỡng ngoài ra không có yêu cầu gì khác, tranh chấp giữa bà M và ông K là tranh chấp xin ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông K cư trú tại ấp N, xã L, huyện N, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bà Thái Thị Diễm M và ông Nguyễn Chí K đều có đơn xin vắng mặt phiên xét xử vì bận công việc, đây là yêu cầu chính đáng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Về nội dung vụ án

- Về hôn nhân: Bà Thái Thị Diễm M và ông Võ Chí K có thời gian tìm hiểu và kết hôn vào năm 2018, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Viên An, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau, trích lục kết hôn số 54/2018/TLKH-BS, ngày 24/4/2018. Vì vậy, quan hệ của bà Thái Thị Diễm M và ông Võ Chí K được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do ông K không chung thủy một vợ một chồng, vợ chồng xảy ra cự cãi dẫn đến mất hạnh phúc, vợ chồng ly thân từ năm 2022 đến nay, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà M yêu cầu ly hôn với ông K, ông K đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy các đương sự đã thật sự tự nguyện ly hôn nên căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Thái Thị Diễm M và ông Võ Chí K.

- Về nuôi con: Có một người con chung tên Võ Chí P, sinh ngày 21/01/2019 (nam). Hiện nay, cháu P đang chung sống với ông K. Khi ly hôn, bà M và ông K thống nhất giao cháu P cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng, việc thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử ghi nhận theo quy định của Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

- Việc cấp dưỡng nuôi con, về chia tài sản, nợ thu và nợ trả: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự“Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét là có cơ sở.

- Về án phí:

+ Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: Các bên đương sự chịu 50%, bà Thái Thị Diễm M và ông Võ Chí K mỗi người chịu 150.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà M được xem xét tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, Điều 220, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 55, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Thái Thị Diễm M và ông Võ Chí K.

- Về nuôi con: Có một người con chung tên Võ Chí P, sinh ngày 21/01/2019 (nam). Hiện nay, cháu P đang chung sống với ông K. Khi ly hôn, giao cháu Võ Chí P cho ông Võ Chí K trực tiếp nuôi dưỡng.

Bà M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

- Việc cấp dưỡng nuôi con, về chia tài sản, nợ thu và nợ trả: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

- Về án phí:

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: Các bên đương sự chịu 50%, bà Thái Thị Diễm M và ông Võ Chí K mỗi người chịu 150.000 đồng.

Ngày 28 tháng 4 năm 2023, bà Thái Thị Diễm M đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm với số tiền 300.000 đồng tại Biên lai thu tiền 0016093 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn, sau khi đối trừ bà M được nhận lại 150.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ