vanban.org

Bản án 48/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 15/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phước L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Nguyễn Phước L 09 (Chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2022. Tiếp tục ra quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo cho việc thi hành án. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Phước L - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phước L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH A
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 48/2022/HSST
Ngày: 15 - 9 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Thanh Trí

2. Bà Trần Thị Kim Thắm

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại Nhà văn hóa thị trấn Cái Tắc, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2022/TLST-HS, ngày 22 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Phước L, sinh ngày 22 tháng 7 năm 1993 tại huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang; tên gọi khác: không có; nơi cư trú: ấp AA, thị trấn AB, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc H và bà Trần Thị E; có vợ tên Nguyễn Kim N, sinh năm: 1992 và có 02 người con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2019; tiền án: 01 tiền án, tại bản án số 30/2020/HS-ST ngày 25/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong hình phạt tù, chưa được xóa án tích; tiền sự: 01 tiền sự, tại quyết định số 21/QĐ-UBND ngày 20/9/2021 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Tắc, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn 03 tháng từ ngày 20/9/2021 đến 20/12/2021, đã chấp hành xong quyết định, bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2022 sau đó chuyển sang biện pháp tạm giam đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Phan Văn S, sinh năm: 1999, địa chỉ: ấp F, xã U, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

2. Bà Trần Thị E, sinh năm: 1964, địa chỉ: ấp Tân An, thị trấn Cái Tắc, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 12 giờ ngày 09/01/2022, Nguyễn Phước L đang ở nhà tại số nhà 254, thuộc ấp Tân An, thị trấn Cái Tắc, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang thì Phan Văn S dùng điện thoại nhắn tin cho L nhờ L mua dùm 200.000 đồng ma túy và nói sẽ qua nhà L để sử dụng ma túy thì L đồng ý. L gọi điện thoại cho người tên Tâm (qua điều tra, xác minh không xác định được nhân thân, địa chỉ) hỏi mua 200.000 đồng ma túy dùm S, L kêu S mua thẻ cào mạng Viettel mệnh giá 50.000 đồng chụp nhắn cho L trước. Sau đó, L dùng 04 thẻ cào mobifone mỗi thẻ mệnh giá 50.000 đồng gửi cho Tâm, sau khi nhận đủ thẻ cào với số tiền tương ứng mua ma túy Tâm mang ma túy để ở bụi cây gần nhà L và điện thoại cho L chỉ chỗ để L đến lấy ma túy. Khi lấy được ma túy L mang về phòng ngủ của L đợi S đến để tổ chức sử dụng ma túy cùng nhau. Khoảng 30 phút sau S đến nhà L đưa thêm 02 thẻ cào mạng mobifone, mỗi thẻ mệnh giá 50.000 đồng và tiền Việt Nam 50.000 đồng để trả tiền mua ma túy dùm. Tiếp đến, L lấy bịch ma túy cắt ra đổ vào tẩu thủy tinh của L được gắn trên chai nhựa do L chuẩn bị sẵn, L dùng quẹt gas đốt ma túy, L sử dụng trước rồi đến S, khi S và L vừa sử dụng xong thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 03/KL-PC09 ngày 13/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hậu Giang đã giám định và kết luận: Mẫu tinh thể chứa trong 01 dụng cụ thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,014583 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Phước L còn thừa nhận hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà cùng với S như sau:

Lần thứ nhất: Vào tháng 01/2022 (không xác định được ngày cụ thể) Nguyễn Phước L mua dùm Phan Văn S 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng, sau đó L và S sử dụng ma túy tại nhà L.

Lần thứ hai: Cách lần thứ nhất 02 ngày, Nguyễn Phước L mua dùm Phan Văn S 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng, sau đó L và Cẩn sử dụng ma túy tại nhà L.

Lần thứ ba: Vào ngày 07/01/2022, Nguyễn Phước L mua dùm Phan Văn S 01 bịch ma túy với giá 200.000 đồng, tuy nhiên lần này L hùn thêm 100.000 đồng để mua ma túy mục đích để về sử dụng cùng với S tại nhà của L.

Các lần sử dụng ma túy tại nhà của L thì các công cụ, dụng cụ dùng để sử dụng ma túy nhằm mục đích đưa chất ma túy vào cơ thể L và S là do L là người cung cấp, chuẩn bị.

Cáo trạng số 38/CT-VKS-HCTA ngày 19 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A đã truy tố bị cáo Nguyễn Phước L về tội “Tổ chức sử dụng trái pháp chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A trong phần luận tội đã giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo, phân tích cấu thành tội phạm và tính chất, hành vi, mức độ nguy hiểm, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Phước L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái pháp chất ma túy”, đồng thời đề nghị: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Phước L từ 09 năm đến 10 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2022.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động Oppo đã qua sử dụng và 50.000 đồng có liên quan đến việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung công.

Đối với các vật chứng còn lại là vật không có giá trị nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất tội danh như nội dung cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện được xem là hợp pháp.

Xét về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Văn S. Xét thấy, quá trình điều tra S đã có cung cấp lời khai rõ ràng, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Phước L thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người chứng kiến và các tình tiết chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo L là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ ma túy là chất cấm chỉ do Nhà nước độc quyền quản lý nhưng vẫn cố ý mua ma túy dùm S với mục đích được cùng sử dụng ma túy, bị cáo đã dùng địa điểm là phòng ngủ tại nhà của mình và chuẩn bị sẵn các công cụ, dụng cụ hỗ trợ nhằm mục đích đưa ma túy vào cơ thể của mình và người khác là S; xác định được từ đầu tháng 01/2022 đến ngày 09/01/2022 (khoảng 09 ngày) bị cáo đã thực hiện hành vi tương tự 04 lần, đó là mua dùm S ma túy của tên Tâm nhưng không nhằm mục đích tàng trữ, vận chuyển, sản xuất, mua bán mà chỉ nhằm mục đích duy nhất là được sử dụng ma túy để thỏa mãn cơn nghiện cùng với S, đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà 04 lần cùng với S. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Xét về tình tiết tăng nặng: bị cáo có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xét về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay cho thấy bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét hành vi, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và hình phạt đối với bị cáo: bị cáo là người có 01 tiền án, 01 tiền sự lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hiện nay ma túy là vấn nạn xã hội, là nguồn cơn làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác và hơn hết là nó để lại nhiều hệ lụy cho xã hội, cho sức khỏe của con người, cho gia đình có người thân sa vào nghiện ngập nên S phải xử lý nghiêm minh, có hình phạt thích đáng, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người lương thiện và để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Xét về xử lý vật chứng:

Đối với 01 dụng cụ thủy tinh và vỏ bao gói được niêm phong có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự và chữ ký ghi tên Đặng Thị Phương Loan (người chứng kiến) và Trần Mạnh Tiến (cơ quan điều tra) số 03/2022 ngày 13/01/2022 và 01 chai nhựa tự chế có nắp màu đỏ, trên nắp chai có gắn một ống hút sọc màu trắng vàng xanh, bên trong chai nhựa có gắn một đoạn ống hút màu cam; 04 thẻ cào mạng điện thoại đã qua sử dụng (trong đó 02 thẻ mobifone mệnh giá 50.000 đồng, 01 thẻ Viettel mệnh giá 50.000 đồng, 01 thẻ cào mobifone mệnh giá 20.000 đồng); 01 cây kéo bằng kim loại đã qua sử dụng; 03 quẹt gas (trong đó 02 quẹt gas đã qua sử dụng, 01 quẹt gas đã bị bễ); 02 đoạn bịch ny lon trong suốt được hàn kín một đầu; 13 ống hút nhựa là vật cấm và công cụ, dụng cụ phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO đã qua sử dụng và 50.000 đồng quá trình điều tra, xét xử xét thấy có liên quan đến việc phạm tội là vật có giá nên tịch thu sung công quỹ.

Đối với Phan Văn S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành A đã có Công văn số 128/CSĐT-KT&MT ngày 05/4/2022 chuyển hồ sơ cho Công an xã Đông Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang để xử lý hành chính là phù hợp, có căn cứ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều khoản áp dụng và hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phước L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

1. Căn cứ: điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Các Điều 292, 329, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2. Xử phạt: Nguyễn Phước L 09 (Chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2022. Tiếp tục ra quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo cho việc thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 dụng cụ thủy tinh và vỏ bao gói được niêm phong có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự và chữ ký ghi tên Đặng Thị Phương Loan (người chứng kiến) và Trần Mạnh Tiến (cơ quan điều tra) số 03/2022 ngày 13/01/2022 và 01 chai nhựa tự chế có nắp màu đỏ, trên nắp chai có gắn một ống hút sọc màu trắng vàng xanh, bên trong chai nhựa có gắn một đoạn ống hút màu cam; 04 thẻ cào mạng điện thoại đã qua sử dụng (trong đó 02 thẻ mobifone mệnh giá 50.000 đồng, 01 thẻ Viettel mệnh giá 50.000 đồng, 01 thẻ cào mobifone mệnh giá 20.000 đồng); 01 cây kéo bằng kim loại đã qua sử dụng; 03 quẹt gas (trong đó 02 quẹt gas đã qua sử dụng, 01 quẹt gas đã bị bễ); 02 đoạn bịch ny lon trong suốt được hàn kín một đầu; 13 ống hút nhựa.

Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng đã qua sử dụng và 50.000 đồng.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội bị cáo Nguyễn Phước L phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 15/9/2022. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.

Cỡ chữ