- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân D phạm tội " tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành ch…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2021/HS-ST Ngày 10-11-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Gấm.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vân Anh.
Bà Trần Thị Huê.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thảo – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện V.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức Hoài - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2021/TLST - HS ngày 11 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2021/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân D, sinh năm: 1997 tại: Nam Định
Nơi ĐKHKTT và nơi ở: xóm Đ, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông: Nguyễn Xuân H, sinh năm: 1971; con bà: Nguyễn Thị B, sinh năm: 1972; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07-7-2021 đến nay; “Có mặt”.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Vũ Hữu C, sinh năm 1983; nơi cư trú: Đội 7, thôn V, xã
V, huyện V, tỉnh Nam Định. “Vắng mặt”.
+ Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1964; “Vắng mặt”.
2. Anh Nguyễn Hải L sinh năm 1983; “Vắng mặt”.
3. Anh D Văn T, sinh năm 2000; “Vắng mặt”.
4. Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1971; “Vắng mặt”.
5. Anh Lại Tuấn A, sinh năm 1992; “Vắng mặt”.
6. Chị Chiu Thị H, sinh năm 2003; “Vắng mặt”.
7. Chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 2000; “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07-7-2021, Nguyễn Xuân D đã có hành vi mua ma túy, chuẩn bị đĩa sứ, loa Bluetooth, đèn chớp; rủ Nguyễn Thị Bích T thuê phòng 207 tại nhà nghỉ Mai Mai thuộc xóm T, xã L, huyện V, tỉnh Nam Định để cùng sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang. Cơ quan Công an đã thu giữ: 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn đường kính 23cm, 01 thẻ nhựa cứng màu xanh kích thước (8 x 5,5)cm, 01 ống hút được quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được bọc bởi 03 vỏ thuốc lá Thăng Long màu vàng, 02 vỏ túi nilong màu trắng kích thước (3,5 x 4)cm, tất cả đều bám dính chất bột dạng tinh thể màu trắng; 01 túi nilong màu trắng kích thước (6 x 8)cm, bên trong chứa 01 viên nén màu hồng; tất cả được niêm phong trong hộp bìa cứng kích thước (19 x 23,5 x 21,5)cm dán kín các mép đánh ký hiệu M; 01 điện thoại Iphone 12 Pro màu xanh; 01 loa Bluetooth màu đen nhãn hiệu Harman/kardon; 01 đèn chớp.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, Nguyễn Xuân D khai nhận hành vi của mình như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên tối ngày 06-7-2021, Nguyễn Xuân D một mình điều khiển xe mô tô ra khu vực Quốc lộ 10 thuộc thôn D, xã T, huyện V mua của một người đàn ông lạ mặt, đeo khẩu trang (D không biết tên, tuổi, địa chỉ) 02 gói ma túy ke và 02 viên ma túy kẹo với giá 3.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D cất giấu trong người rồi đi về nhà. Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07-7-2021, D gọi điện rủ Nguyễn Thị Bích T đi sử dụng ma túy. Sau khi T đồng ý, D điều khiển xe máy NOUVO LX có BKS: 90B1-08188 tới đón T đến thuê phòng 207 tại nhà nghỉ Mai Mai nằm sát Quốc lộ 10 thuộc xóm T, xã L, huyện V. Do có quen biết với Vũ Hữu C nên D đã gọi điện hỏi mượn loa Bluetooth và đèn chớp của C (C không biết mục đích D mượn loa và đèn để sử dụng ma túy). C đồng ý rồi cầm loa, đèn chớp đến đưa cho D trước cổng nhà nghỉ Mai Mai, D nhận và cầm lên phòng 207. Sau đó, D xuống quầy lễ tân hỏi lấy bánh, kẹo, 01 bao thuốc lá Thăng Long và lấy 01 đĩa sứ hình tròn đường kính 23cm để đựng. Khi vào phòng 207, D bỏ bánh, kẹo, thuốc lá ra rồi đổ 02 gói ma túy ke ra đĩa sứ. D lấy trong túi quần bên phải đang mặc 01 thẻ nhựa cứng màu xanh đặt lên đĩa và lấy 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn tròn theo chiều dọc, lấy 03 vỏ đầu lọc thuốc lá Thăng Long lồng vào tờ tiền vừa cuộn tạo thành ống hút đặt lên đĩa. Sau đó, D lấy điện thoại của mình kết nối với loa Bluetooth bật nhạc sàn, cắm đèn chớp. Chuẩn bị xong, D lấy 01 viên ma túy kẹo trong túi nilong ra để sử dụng, viên ma túy kẹo còn lại D bẻ thành hai nửa, một nửa D đưa cho T sử dụng, còn một nửa D cất vào túi nilong. D cầm thẻ nhựa màu xanh dầm nát ma túy ke trên đĩa, chia thành nhiều đường nhỏ rồi D và T lần lượt thay nhau dùng ống hút hít ma túy ke trên đĩa qua đường mũi. Khi D, T đang lắc lư theo nhạc thì bị Cơ quan Công an huyện V kiểm tra nhà nghỉ Mai Mai phát hiện và bắt giữ. Ngoài tang vật thu giữ như trên, Cơ quan Công an còn tiến hành lấy mẫu nước tiểu của Nguyễn Xuân D và Nguyễn Thị Bích T vào chai nhựa màu trắng dán kín đánh kí hiệu lần lượt là N1, N2 rồi niêm phong vào trong hộp bìa cứng KT (17 x 28,5 x 9)cm dán kín kí hiệu N.
Ngày 08-7-2021, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định đã có Kết luận giám định số 940/GĐKTHS kết luận: Mẫu bột dạng tinh thể màu trắng trên 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng có đường kính khoảng 23cm; mẫu bột dạng tinh thể màu trắng bám dính trên 01 thẻ nhựa cứng màu xanh có kích thước khoảng (8x5,5)cm, trên bề mặt thẻ có dòng chữ MB NGUYEN XUAN D VISA; mẫu bột dạng tinh thể màu trắng bám dính trong 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền polymer mệnh giá 10.000 đồng, được cố định bằng ba vỏ đầu lọc thuốc lá Thăng Long màu vàng và mẫu bột dạng tinh thể màu trắng bám dính trong 02 vỏ túi nilong màu trắng kích thước khoảng (3,5x4)cm, tất cả đựng trong 01 hộp bìa cứng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là ma túy; loại ma túy: Ketamine; tổng khối lượng mẫu: 0,259 gam. Mẫu gồm 01 viên nén màu hồng trong 01 túi nilong màu trắng kích thước khoảng (6x8)cm, đựng trong 01 hộp bìa cứng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy; loại ma túy: MDMA; khối lượng mẫu: 0,309 gam. (BL 39)
Ngày 08-7-2021, Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định đã có Kết luận giám định số 941/GĐKTHS kết luận: Có tìm thấy thành phần các chất MDMA, Ketamine, Norketamine và Dehydronorketamine trong 02 mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu N1, N2 gửi giám định.
Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã thu giữ và trả lại:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe NOUVO màu xanh có BKS: 90B1-08188. Quá trình điều tra, xác định chiếc xe này thuộc quyền sở hữu của anh Lại Tuấn A – Sinh năm: 1992, HKTT: C – Phủ Lý – Hà Nam (là bạn của D). Ngày 05-7-2021, khi D mượn chiếc xe trên và thực hiện hành vi vi phạm về ma túy thì anh Lại Tuấn A hoàn toàn không biết. Ngày 20-7-2021, Văn phòng cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định thông báo kết quả tra cứu xe máy vật chứng số 811 xác định chiếc xe mô tô BKS: 90B1-08188 không phải là tang vật trong vụ án nào. Ngày 27-7-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả chiếc xe trên cho anh Lại Tuấn A.
- 01 điện thoại di động IPHONE 12 PRO, số IMEI: 3549911553771702 thu giữ của Nguyễn Xuân D. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra nhận định chiếc điện thoại trên của ông Nguyễn Xuân H - là bố đẻ của D. Ngày 27-7-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã trả chiếc điện thoại trên cho ông Nguyễn Xuân H.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân D khai nhận hành vi của mình như đã nêu trên.
Cáo trạng số 49/CT - VKSVB ngày 11-10-2021 của Viện kiểm sát nhận dân huyện V, tỉnh Nam Định đã truy tố Nguyễn Xuân D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự
* Tại phiên tòa bị cáo D đã thành khẩn khai nhận về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép ma túy của mình như nội dung đã nêu trên và xin giảm nhẹ hình phạt.
* Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố đối với hành vi của bị cáo Nguyễn Xuân D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1 Điều 255; Điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân D từ 24 tháng đến 27 tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của D, tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 10.000 đồng và trả lại cho Vũ Hữu C 01 (một) loa Bluetooth màu đen nhãn hiệu Harman/Kardon + 01 (một) đèn chớp.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập trong quá trình điều tra như: Biên bản kiểm tra hành chính và thu giữ vật chứng; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định nên có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 07-7-2021, Nguyễn Xuân D đã có hành vi mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ, thuê phòng 207 tại nhà nghỉ Mai Mai thuộc xã L, huyện V, tỉnh Nam Định và rủ Nguyễn Thị Bích T cùng sử dụng ma túy. Khi D và T đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang, đồng thời thu giữ 0,309 gam ma túy loại MDMA và 0,259 gam ma túy loại Ketamine, cùng một số vật chứng khác.
Như vậy, hành vi như đã nêu trên của bị cáo Nguyễn Xuân D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức, sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm tới chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, mục đích của bị cáo chuẩn bị các chất ma túy, loa, đèn để T cùng sử dụng chất ma túy với bị cáo. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Tệ nạn về ma túy hiện nay đang là một vấn nạn của toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, Đảng và Nhà nước ta cũng như các nước trên thế giới đang tích cực đấu tranh, phòng chống các tệ nạn về ma tuý nhằm loại bỏ ma túy ra khỏi đời sống xã hội.
. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
. Về nhân thân: Bị cáo D có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự gì.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
. Về đường lối xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình, cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ §iÒu 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma tuý đã thu giữ của D.
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 10.000 đồng.
+ Trả lại cho anh Vũ Hữu C:
- 01 (một) loa Bluetooth màu đen nhãn hiệu Harman/Kardon;
- 01 (một) đèn chớp.
. Về tư cách tham gia tố tụng: Anh Lại Tuấn A đã nhận lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại xe NOUVO màu xanh BKS: 90B1-08188; ông Nguyễn Xuân H đã nhận lại 01 điện thoại di động IPHONE 12 PRO, số IMEI: 3549911553771702. Anh T và ông H không có yêu cầu đề nghị gì do đó không xác định anh T và ông H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
* Đối với Vũ Hữu C, quá trình Nguyễn Xuân D hỏi mượn loa Bluetooth và đèn chớp thì D không nói cho C biết mục đích mượn loa, đèn để sử dụng ma túy nên C không biết mục đích D mượn để làm gì. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không xem xét xử lý đối với C trong vụ án là có căn cứ.
* Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 07-7-2021 của Nguyễn Thị Bích T: Sau khi có kết quả giám định nước tiểu của D, T tại Kết luận giám định số 941/GĐKTHS ngày 08-7-2021 đều cho kết quả dương tính, căn cứ Khoản 1 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy chữa cháy, phòng chống bạo lực gia đình, Công an huyện V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T bằng hình thức phạt tiền, mức phạt: 750.000 đồng là có căn cứ.
* Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Xuân D, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tách hồ sơ để điều tra, giải quyết sau là phù hợp.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân D 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07-7-2021.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ §iÒu 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ của bị cáo gồm 01(một) hộp bìa cứng được niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định, mặt trước có ghi: Số 941/GĐKTHS, “Kính gửi: Cơ quan CSĐT – Công an huyện V. Hoàn trả mẫu vật giám định vụ tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà nghỉ Mai Mai thuộc xóm T, xã L, huyện V, tỉnh Nam Định, ngày 07-7-2021”.
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 10.000 đồng.
+ Trả lại cho Vũ Hữu C:
- 01 (một) loa Bluetooth màu đen nhãn hiệu Harman/Kardon;
- 01 (một) đèn chớp.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngµy 13-10-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện V).
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Xuân D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
5. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được kháng cáo về những vấn đề có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình).
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiện thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện + tỉnh; - Công an huyện V; - Chi cục THADS huyện V; - Sở tư pháp tỉnh Nam Định; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Nam Định; - UBND xã T; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Gấm |