- Tranh chấp gì? án hình sự — "hiếp dâm người dưới 16 tuổi - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc N phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 48/2021/HS-ST Ngày: 28-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Thanh Nhàn.
Bà Nguyễn Thị Bé Riêng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nhung – Thẩm tra viên của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Cao Minh Dương – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2021/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2021/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2021 đối với:
- Bị cáo: Hồ Quốc Nghị, sinh năm: 1992, tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: ấp NH, xã ĐPh, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn D1, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1970; em ruột có 01 người sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 26-01-2021 cho đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Em Lê Thảo M, sinh ngày: 01/7/2005; Nơi cư trú: ấp RD, xã ĐP, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị H, sinh năm: 1984; Nơi cư trú: ấp RD, xã ĐP, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Hồng T – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Trà Vinh (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Em Đỗ Vũ D2, sinh ngày: 13/8/2005; Nơi cư trú: ấp RĐ, xã NL, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt không lý do).
+ Em Phạm Hoàng K, sinh ngày: 10/10/2003 (Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt);
+ Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1970 (Có mặt);
+ Chị Hồ Thị Mỹ T, sinh năm: 1994 (Có mặt).
Cùng nơi cư trú: ấp NH, xã ĐP, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 24-01-2021, Hồ Quốc N cùng với Phạm Hoàng K, Lê Thảo M, và Đỗ Vũ D2 đến chơi tại nhà Nguyễn Văn L2, ở ấp MHA, xã ĐM, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Tại đây, N, K, M, D2 và L2 tổ chức uống rượu. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, tất cả rời khỏi nhà của L2 để về nhà của K. K và M đi chung xe đạp điện về nhà K trước. Còn N và D2 đi trên xe mô tô về nhà của N để N lấy áo khoác.
Khoảng 22 giờ cùng ngày, N cùng với D2 quay lại nhà của K uống rượu cùng K và M. Đến khoảng 01 giờ ngày 25-01-2021, K rủ D2 đi hái trộm xoài về uống rượu thì D2 đồng ý. N kêu K và D2 lấy xe mô tô của N đi hái xoài. Khi K và D2 đi, tại nhà của K chỉ còn M và N. M đi vào phòng ngủ của K nằm trên tấm nệm đặt trên nền nhà. N thì ngồi tại cửa phòng ngủ nhắn tin với bạn gái, sau đó nảy sinh dục vọng khiến dương vật cương cứng. N quay sang nhìn thấy M đang nằm ngửa trên nệm, cách vị trí N ngồi 1,2 mét, lợi dụng hoàn cảnh vắng vẻ, đêm tối, nên N nảy sinh ý muốn quan hệ tình dục với M. N đi đến vị trí M nằm, dùng tay sờ mặt của M, nhưng bị M từ chối và dùng tay xô đẩy tay của N ra. Do N đã có uống rượu bia, nên quyết tâm quan hệ tình dục với M để thỏa mãn nhu cầu sinh lý bản thân. N dùng hai tay nắm kéo giữ chặt hai tay của M ra phía sau đầu, M phản kháng lại, nên N nằm đè lên người của M trong tư thế cơ thể của M lọt giữa hai chân của N, mục đích để giữ chặt không cho M phản kháng. Tiếp đó, N dùng tay phải đè giữ hai tay của M, tay trái cởi tuột quần dài và quần lót của M dang mặc xuống khỏi hai đầu gối (quần lưng thun) rồi tự dùng tay trái của N cởi quần lót thì bị M kháng cự quyết liệt. N tiếp tục nằm đè lên người của M tư thế mặt đối mặt và dùng tay trái sờ vào đùi của M. N làm vuột tay phải của M và bị M dùng tay phải cào cấu vào vùng cổ bên trái và hông sườn bên trái gây nên nhiều dấu vết trầy sướt trên da của N. M và N giằng co qua lại, nên N chưa đưa được dương vật đang cương cứng vào trong âm đạo của M.
Thời điểm này, K và D2 đi hái xoài của chùa MĐ (chùa LK) ở ấp NH, xã ĐP, cách nhà K khoảng 01km, nghi ngờ N xâm hại M, nên sau khi hái được khoảng 04 - 05 trái xoài thì D2 kêu K quay về. Khi về đến trước cửa nhà, K nghe tiếng M kêu “Buông ra, buông ra”, K liền chạy vào đến trước cửa phòng nhìn thấy N đang nằm đè lên người của M, N trong tình trạng không mặc quần áo, chỉ mặc quần lót, còn M chỉ mặc áo không mặc quần dài và quần lót. K hỏi N “Anh làm gì vậy?”, thì N buông tay M ra rồi đứng lên bước đến dùng tay đánh vào mặt của K, thì K đánh lại. Đồng thời, kêu D2 phụ giúp. D2 vào nhìn thấy cả hai đánh nhau, nên can ngăn thì cũng bị N đánh. Sau đó, D2 đánh trúng sống mũi làm N bất tỉnh. K lấy dây nịch của N và dây điện sẵn có tại nhà trói tay, chân N lại. Sau đó, M mặc quần vào rồi cùng K đến nhà ông Trịnh Văn Ng nhờ giúp trình báo Công an xã ĐP. Khi lực lượng Công an đến, thì N mới tỉnh lại, nhưng do bị thương, nên được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Trà Vinh điều trị. Đến ngày 26-01-2021 thì xuất viện.
Ngày 03-02-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định AND từ các mẫu thu trong móng tay của Lê Thảo M. Tại Kết luận giám định số 1073/C09B ngày 24-3-2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Phân tích gen (AND) từ mẫu móng tay ghi thu của bị hại Lê Thảo M được 01 kiểu gen nữ giới, 01 kiểu gen nam giới trùng với kiểu gen của bị can Hồ Quốc N.
Ngày 05-02-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định màng trinh đối với Lê Thảo M. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 07/21/TD ngày 17-02-2021 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Trà Vinh kết luận: Màng trinh giãn 2cm; Màng trinh rách cũ ở ba vị trí: 1 giờ, 11 giờ (Rách chưa đến chân màng trinh), 8 giờ (Rách đến chân màng trinh).
Do khai sinh của Lê Thảo M đăng ký quá hạn, nên ngày 26-3-2021, Cơ quan điều tra trưng cầu giám định tuổi của M. Tại Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 1904/C09B ngày 31-3-2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tại thời điểm giám định (tháng 3-2021) Lê Thảo M có độ tuổi từ 15 năm 06 tháng đến 16 năm.
Ngày 19-5-2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm (%) tổn thương cơ thể do thương tích và cơ chế hình thành vết thương đối với Hồ Quốc N. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 55/21/TgT ngày 21-5-2021 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Trà Vinh kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Hồ Quốc N là 0% (không phần trăm).
Tang vật thu giữ: Một quần jean dài ngang gối, màu xanh, hai ống quần có 06 lổ rách, hai túi quần phía sau có 02 lổ rách; Một áo khoác bằng vải thun, tay dài, màu đen - trắng; Một áo bằng vải, màu xanh có bông màu trắng nhỏ; Một quần dài bằng vải ka ki mềm, màu đen; Một áo lót ngực của nữ, màu trắng; Một quần lót nữ màu tím; Một sợi dây nịch bằng da, màu đen - vàng, dài 01 mét, bản rộng 3,3 cm, đầu dây nịch bằng kim loại; Một sợi dây điện, màu xanh, dài 75 cm; 05 (Năm) móng tay bàn tay phải của bị hại Lê Thảo M; Mẫu tóc, niêm mạc miệng thu giữ của Hồ Quốc N.
Tại Cơ quan điều tra, Hồ Quốc N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Bản cáo trạng số: 55/CT-VKS-HS ngày 13-8-2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố Hồ Quốc Nghị về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hồ Quốc N có mặt đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như đã nêu trong Bản cáo trạng. Đối với bị hại, người đại diện của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L1, Hồ Thị Mỹ T có mặt giữ nguyên lời khai có trong hồ sơ vụ án; Phía bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 5.000.000 đồng. Bị cáo và bị hại không yêu cầu nhận lại các tài sản (quần áo) là vật chứng đã nêu trên. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Hoàng K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, xác định vẫn giữ nguyên các lời khai có trong hồ sơ vụ án; còn Đỗ Vũ D2 vắng mặt không lý do, nên không có lời trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo Hồ Quốc N phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Về tình tiết tăng nặng: không có; Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có tác động gia đình khắc phục bồi thường thiệt hại được số tiền 10.000.000 đồng (nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện); Bị cáo có nhiều người thân có công cách mạng. Nên Vị Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Về hình phạt chính căn cứ điểm a khoản 1 Điều 142, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hồ Quốc N từ 07 năm đến 08 năm tù, thời hạn phạt tù được tính từ ngày 26-01-2021. Hình phạt bổ sung: Không. Về giải quyết trách nhiệm dân sự: Vị Kiểm sát viên đề nghị ghi nhận tự nguyện của bị cáo bồi thường cho bị hại tổng số tiền là 15.000.000 đồng (trong đó có số tiền 10.000.000 đồng đã nộp khắc phục tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện, bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền 5.000.000 đồng). Về xử lý vật chứng: Vị Kiểm sát viên đề nghị tịch thu và tiêu hủy một quần jean dài ngang gối, màu xanh, hai ống quần có 06 lổ rách, hai túi quần phía sau có 02 lổ rách; một áo khoác bằng vải thun, tay dài, màu đen - trắng; một áo bằng vải, màu xanh có bông màu trắng nhỏ; một quần dài bằng vải ka ki mềm, màu đen; một áo lót ngực của nữ, màu trắng; một quần lót nữ màu tím; một sợi dây nịch bằng da, màu đen - vàng, dài 01 mét, bản rộng 3,3 cm, đầu dây nịch bằng kim loại; một sợi dây điện, màu xanh, dài 75 cm; Đối với 05 (Năm) móng tay bàn tay phải của bị hại Lê Thảo M và mẫu tóc, niêm mạc miệng thu giữ của Hồ Quốc N cần lưu giữ vào trong hồ sơ vụ án. Ngoài ra, Vị đề nghị buộc bị cáo Hồ Quốc N chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Vị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại sự thành khẩn khai báo trong lời khai của bị cáo Hồ Quốc N, bởi trước khi có kết luận giám định gen (AND) từ mẫu móng tay ghi thu của bị hại Lê Thảo M của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận là của bị cáo, thì bị cáo chưa thừa nhận hành vi xâm hại đối với bị hại. Đối với hành vi của bị cáo đã thể hiện xem thường thuần phong mỹ tục của người Việt Nam, xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất của người bị hại (độ tuổi vị thành niên). Vị thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo nghiêm minh theo quy định pháp luật. Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các vấn đề án phí, Vị thống nhất với quan điểm mà Vị kiểm sát viên đã trình bày.
Qua quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, bị hại, người đại diện của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, đã tranh luận đối đáp với nhau, sau cùng mỗi người giữ nguyên quan điểm, ý kiến đã trình bày.
Lời nói sau cùng của bị cáo Hồ Quốc N trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án là: Bị cáo đã rất ăn năn hối hận về hành vi của mình; Bị cáo xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, Vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung thêm tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định và giới hạn xét xử của Tòa án theo Điều 298 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Hoàng K có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, Đỗ Vũ D2 được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, hai đương sự này đã có lời khai rõ ràng tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những đương sự này theo luật định.
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người đại diện của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Đồng thời thống nhất với toàn bộ các kết luận giám định có trong hồ sơ vụ án gồm: Kết luận giám định số 1073/C09B ngày 24-3-2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh; Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 07/21/TD ngày 17-02-2021 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Trà Vinh; Bản kết luận giám định pháp y về độ tuổi số 1904/C09B ngày 31-3-2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 55/21/TgT ngày 21-5-2021 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh Trà Vinh. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Quốc N khai nhận: Vào ngày 25-01-2021, tại nhà của Phạm Hoàng K, bị cáo đã có hành vi dùng vũ lực khống chế thực hiện hành vi hiếp dâm đối với Lê Thảo M, sinh ngày 01-7-2005 (15 tuổi 06 tháng). Lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và vật chứng đã thu giữ.
Xét thấy Bản cáo trạng số 55/CT-VKS-HS ngày 13-8-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C quyết định truy tố bị cáo Hồ Quốc N về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật, không oan, không sai.
Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức được hành vi dùng vũ lực khống chế thực hiện hành vi hiếp dâm đối với bị hại là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cương quyết thực hiện, tuy nhiên do sự phản kháng quyết liệt của bị hại và do có sự can ngăn của D2 và K, nên bị cáo mới không thực hiện được hành vi phạm tội đến cùng.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe, tâm lý, nhân phẩm, danh dự người dưới 16 tuổi, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội. Để góp phần ổn định tình hình trật tự tại địa phương và đấu tranh ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử bị cáo hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi của bị cáo và tính chất của vụ án, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Hồ Quốc N, Hội đồng xét xử cũng cần xem xét: Bị cáo sau khi phạm tội đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có tác động gia đình khắc phục bồi thường thiệt hại được số tiền 10.000.000 đồng (nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C); Bị cáo có ông nội là cụ Hồ Văn Nh được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì, bà nội là cụ Nguyễn Thị L3 được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen đã đóng góp công sức vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cha ruột là ông Hồ D1 được Chủ tịch nước tặng Huân chương chiến công Hạng Ba. Đây là những căn cứ để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Giữa bị cáo và gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về tổng các khoản chi phí trách nhiệm dân sự mà bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền là 15.000.000 đồng, đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện là 10.000.000 đồng, còn lại 5.000.000 đồng bị cáo phải tiếp tục bồi thường.
Về vật chứng của vụ án là:
Đối với: Một quần jean dài ngang gối, màu xanh, hai ống quần có 06 lổ rách, hai túi quần phía sau có 02 lổ rách; Một áo khoác bằng vải thun, tay dài, màu đen - trắng; Một áo bằng vải, màu xanh có bông màu trắng nhỏ; Một quần dài bằng vải ka ki mềm, màu đen; Một áo lót ngực của nữ, màu trắng; Một quần lót nữ màu tím; Một sợi dây nịch bằng da, màu đen - vàng, dài 01 mét, bản rộng 3,3 cm, đầu dây nịch bằng kim loại; Một sợi dây điện, màu xanh, dài 75 cm, không còn giá trị sử dụng, bị cáo và bị hại không yêu cầu nhận lại, nên tịch thu và tiêu hủy.
Đối với 05 (Năm) móng tay bàn tay phải của bị hại Lê Thảo M và mẫu tóc, niêm mạc miệng thu giữ của Hồ Quốc N được lưu giữ vào hồ sơ vụ án.
Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Hồ Quốc N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của Phạm Hoàng K và Đỗ Vũ D2 đã đánh và trói Hồ Quốc N, nhằm mục đích ngăn cản bị cáo N tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đối với bị hại Lê Thảo M, do tỷ lệ thương tích của bị cáo là 0%, nên hành vi của K và D2 không cấu thành tội phạm.
Đối với hành vi trộm cắp vặt (trộm xoài) của K và D2: Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị Công an xã ĐP làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị L1 là mẹ ruột và Hồ Thị Mỹ T là em ruột bị cáo Hồ Quốc N không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 10.000.000 đồng đã khắc phục hậu quả cho bị hại, nên không xem xét.
Từ những nhận định trên, đối với quan điểm luận tội và đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp luật định, được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có căn cứ để chấp nhận phần quan điểm phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc N phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ vào các Điều 45, 260, 268, 269, 292, 299 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 142, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Hồ Quốc N 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 26-01-2021.
2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 592 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Hồ Quốc N bồi thường số tiền 15.000.000 đ (Mười lăm triệu đồng) cho bị hại em Lê Thảo M [Đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C số tiền 10.000.000 đ (Mười triệu đồng), còn lại số tiền 5.000.000 đ (Năm triệu đồng) bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho bị hại].
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) quần jean dài ngang gối, màu xanh, hai ống quần có 06 lổ rách, hai túi quần phía sau có 02 lổ rách; 01 (Một) áo khoác bằng vải thun, tay dài, màu đen - trắng; 01 (Một) áo bằng vải, màu xanh có bông màu trắng nhỏ; 01 (Một) quần dài bằng vải ka ki mềm, màu đen; 01 (Một) áo lót ngực của nữ, màu trắng; 01 (Một) quần lót nữ màu tím; 01 (Một) sợi dây nịch bằng da, màu đen
- vàng, dài 01 mét, bản rộng 3,3 cm, đầu dây nịch bằng kim loại; 01 (Một) sợi dây điện, màu xanh, dài 75 cm.
Lưu giữ vào trong hồ sơ vụ án: 05 (Năm) móng tay bàn tay phải của bị hại Lê Thảo M; Mẫu tóc, niêm mạc miệng thu giữ của Hồ Quốc N.
(Các vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện C đang quản lý).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Hồ Quốc N nộp 200.000 đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Án sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo và người tham gia tố tụng biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: VT; hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Thảo |