vanban.org

Bản án 48/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 30/06/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyªn bè bÞ c¸o Bùi Thị M ph¹m téi “Trộm cắp tài sản”.

Xö ph¹t bị cáo Bùi Thị M 06 (Sáu) tháng tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t thi hành án. VÒ xö lý vËt chøng:Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự. Tịch thu để tiêu hủy 29 chiếc phong bì bị mở không có đồ vật, tài sản gì bên trong; 01 chiếc chìa khóa bằng kim loại, dài khoảng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Bùi Thị M phạm tội " Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyªn bè bÞ c¸o Bùi Thị M ph¹m téi “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 33 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 48/2017/HSST
Ngày 30/6/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Huy Hoàng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Văn Hạp 2. Ông Nguyễn Thế Phượng

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Mai Hương - là Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà - tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 45/2017/HSST, ngày 26 tháng 5 năm 2017 đối với bị cáo: Bùi Thị M, sinh ngày 07 tháng 9 năm 1990. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn H, xã P, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Số CMND: 151765317, nghề nghiệp lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; con ông Bùi Đăng Đáp, sinh năm 1953 và bà Đinh Thị Bình, sinh năm 1956. Đều trú tại thôn Duyên Nông, xã Điệp Nông, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; có chồng Phạm Đức Canh, sinh năm 1984, trú tại: thôn H, xã P, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình và có 03 con, lớn 08 tuổi nhỏ sinh tháng 7 năm 2016(bị cáo M khai là con riêng của bị cáo chưa làm giấy khai sinh cho con). Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 13/3/2017 (có mặt).

Người bị hại: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1966, trú tại Thôn G, xã V, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: anh Bùi Gia H, sinh năm 1987, trú tại thôn K, xã Q, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).

- 1 -

NỘID VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa nộiD vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 13/3/2017, M nhìn thấy bàD cầm một tập phong bì tiền mừng đám cưới để vào trong tủ gỗ đặt ở phòng cưới của anh Định và khóa tủ đi ra ngoài. M vào phòng cưới của anh Định để thay quần áo, quan sát thấy trong phòng không có người nên đã nảy sinh ý định trộm cắp số phong bì tiền mừng đám cưới nói trên. M cầm 01 chiếc chìa khóa (bằng kim loại, dài 05cm) trong chùm chìa khóa mang theo cậy mép cánh tủ bên trái, đồng thời tay trái cầm cánh tủ kéo mạnh thì mở được cánh cửa tủ. M nhìn thấy, trong tủ có một chiếc ba lô màu đen, trong ba lô có 01 chiếc túi màu nâu (loại túi đựng áo mưa) chưa kéo khóa hết để lộ phong bì tiền mừng đám cưới, M kéo khóa và lấy toàn bộ 29 chiếc phong bì (trong đó: 26 chiếc phong bì đựng tiền, tổng số tiền là 5.750.000 đồng; 03 chiếc phong bì đã bị bóc không có tiền). M để 29 chiếc phong bì vừa lấy được vào giữa chiếc áo len cuộn tròn lại bỏ vào túi nilon màu đỏ treo vào xe máy và điều khiển xe đi về. Đến khu vực cổng trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Hưng Hà, M bóc 02 chiếc phong bì được số tiền 400.000 đồng (gồm 04 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng) cho túi xách màu đen rồi để 02 chiếc vỏ phong bì vừa xé cùng toàn bộ phong bì tiền mừng đám cưới còn lại trong cốp xe máỵ. M điều khiển xe đến cửa hàng bán lẻ xăng dầu ở Khu Thọ Mai, thị trấn Hưng Hà, huyện Hưng Hà gửi xe máy tại đó và thuê xe taxi đến cầu Triều Dương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để đón xe đi Hà Nội. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện Hưng Hà đã triệu tập Bùi Thị M về trụ sở Công an huyện làm việc và đã quản lý chiếc xe mô tô nhãn hiệu Waveα màu trắng, biển kiểm soát 17B5 - 30129, cùng toàn bộ số phong bì tiền mừng đám cưới M trộm cắp. Xác định số tiền M đã trộm cắp của bà Nguyễn ThịD là 5.750.000 đồng.

Tại phiên toà Bùi Thị M trình bày bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như nộiD bản cáo trạng.

Bản cáo trạng số 47/KSĐT, ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà đã truy tố bị cáo Bùi Thị M về tội “ Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1- Điều 138 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 13/3/2017, tại Thôn G, xã V, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; Bùi Thị M, sinh ngày 07/9/1990, trú tại thôn H, xã P, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã có hành vi trộm cắp 26 chiếc phong bì tiền mừng đám cưới của bà Nguyễn ThịD, sinh năm 1966, trú tại Thôn G, xã V, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình với tổng số tiền 5.750.000 đồng. Do đó giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo M về tội “Trộm cắp tài sản”.Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p

- 2 -

khoản 1, Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thị M từ 06 đến 09 tháng tù.

Lời nói sau cùng: Bị cáo M đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt vì bị cáo đang sống ly thân với chồng và nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi (Bị cáo M khẳng định là con riêng của bị cáo).

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nộiD vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những chứng cứ xác định có tội: Đơn đề nghị và lời khai của người bị hại: bà Nguyễn ThịD, sinh năm 1966, trú tại Thôn G, xã V, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Sơ đồ hiện trường và biên bản xác định hiện trường do Công an huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình lập ngày 15/3/2017; Lời khai của người làm chứng gồm: anh Nguyễn Văn Định, sinh năm 1993; chị Nguyễn Thị Dinh, sinh năm 1988, cùng trú tại Thôn G, xã V, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; chị Nguyễn Thị Kiều, sinh năm 1966; chị Nguyễn Thị Ngần, sinh năm 1993, cùng trú tại thôn Cộng Hòa, xã Bắc Sơn, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình; anh Nguyễn Văn Toản, sinh năm 1974, trú tại thôn Tây Trí, xã Hồng Giang, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, anh Dương Minh Khiết, sinh năm 1984, trú tại Khu Thọ Mai, thị trấn Hưng Hà, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Lời khai của người có quyền và nghĩa vụ liên quan: anh Bùi Gia H, sinh năm 1987, trú tại thôn K, xã Q, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Bị cáo Bùi Thị M sinh ngày 07/9/1990 đã có hành vi lén lút lấy 26 chiếc phong bì tiền của bà Nguyễn ThịD, sinh năm 1966, trú tại Thôn G, xã V, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình với tổng số tiền 5.750.000 đồng. (Năm triệu bẩy trăm lăm mươi nghìn đồng ). Hành vi của bị cáo M đã cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

XÐt tÝnh chÊt, møc ®é nguy hiÓm hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o: hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Mục đích trộm cắp tài sản của bị cáo là tư lợi trái pháp luật

XÐt nh©n th©n bÞ c¸o, c¸c t×nh gi¶m nhÑ, tăng nặng tr¸ch nhiÖm h×nh sù: Bị cáo M có nhân thân tốt được thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và t¹i phiªn toµ bị cáo thµnh khÈn khai b¸o, số tiền không lớn. Do vậy bị cáo ® îc ¸p dông hai t×nh tiÕt gi¶m nhÑ theo quy ®Þnh t¹i ®iÓm p,g - kho¶n 1

- 3 -

§iÒu 46, Bé luËt h×nh sù. Bị cáo M không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định Điều 48 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 29 chiếc phong bì bị mở không có đồ vật, tài sản gì bên trong; 01 chiếc chìa khóa bằng kim loại, dài khoảng 5cm, bị cong vênh đã qua sử dụng. Trả lại bị cáo M 01 chiếc áo len màu xanh, đã qua sử dụng, 01 chiếc túi xách màu đen, đã qua sử dụng; 01 túi nilon màu đỏ đã qua sử dụng. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Waveα, BKS: 17B5- 30129 M dùng làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Bùi Gia H, sinh năm 1987, trú tại thôn K, xã Q, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Khi cho M mượn xe anh Hậu không biết M sử dụng chiếc xe máy trên để đi trộm cắp tài sản. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà đã trả lại chiếc xe máy trên cho anh Hậu là phù hợp với quy định của pháp luật.

Trách nhiệm dân sự: Người bị hại là bà Nguyễn ThịD nhận lại đủ số tiền (5.750.000 đồng) M đã trộm cắp và không yêu cầu M bồi thường.

Về án phí hình sự: Bị cáo M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tõ nh÷ng ph©n tÝch trªn, Hội đồng xét xử xét thấy cÇn ph¶i tiếp tục c¸ch ly bÞ c¸o khái cuéc sèng x· héi trong mét thêi gian nhÊt ®Þnh, míi cã t¸c dông gi¸o dôc, c¶i t¹o bÞ c¸o nãi riªng vµ phßng ngõa chung cho x· héi.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyªn bè bÞ c¸o Bùi Thị M ph¹m téi “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1, Điều 46; Điều 33 Bộ luật Hình sự.

Xö ph¹t bị cáo Bùi Thị M 06 (Sáu) tháng tù, thêi h¹n tï tÝnh tõ ngµy b¾t thi hành án.

VÒ xö lý vËt chøng:Áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự. Tịch thu để tiêu hủy 29 chiếc phong bì bị mở không có đồ vật, tài sản gì bên trong; 01 chiếc chìa khóa bằng kim loại, dài khoảng 5cm, bị cong vênh đã qua sử dụng. Trả lại bị cáo M 01 chiếc áo len màu xanh, đã qua sử dụng, 01 chiếc túi xách màu đen, đã qua sử dụng; 01 túi nilon màu đỏ đã qua sử dụng. (Vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đang quản lý).

Trách nhiệm dân sự: không giải quyết;

Về án phí: Bị cáo M phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

BÞ c¸o Bùi Thị M cã quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy, kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

- 4 -

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ