vanban.org

Bản án 47/2025/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Trị Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Hồ Văn B, Hồ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ văn B cùng đồng phạm "Mua bán trái phép chất ma tuý" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Hồ Văn B, Hồ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2024/HS-ST
Ngày 27-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Hồng Phước.

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Văn Thảo Nguyên - Cán bộ hưu trí, nguyên Giáo viên, người có kinh nghiệm, hiểu biết tâm lý người dưới 18 tuổi;

+ Bà Phan Thị Gái - Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Ngọc Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường xét xử số 01, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 06 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Hồ Văn B, sinh ngày 01/01/1983 tại Quảng Trị; nơi cư trú: thôn Prin Thành, xã A Dơi, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 0/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Pa Cô; tôn giáo: Không; con ông Hồ Văn A và bà Hồ Thị L(đều đã chết); đã từng sống chung như vợ chồng với Hồ Thị Cg, sinh năm 1984, trú tại thôn Prin Thành, xã A Dơi, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị; có 02 người con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị, có mặt tại phiên toà.

2. Hồ Văn T sinh ngày 21/12/2006 tại Quảng Trị; nơi cư trú: thôn Proi Xy, xã A Dơi, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Vân Kiều; tôn giáo: Không; con ông Hồ Văn G, sinh năm 1990 và bà Hồ Thị Ta R, sinh năm 1992.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Trị, có mặt tại phiên toà.

* Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hồ Văn T: Bà Hồ Thị Ta R, sinh năm 1992 (mẹ bị cáo T); nơi cư trú: thôn Proi Xy, xã A Dơi, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn Bai: Ông Trần Đại N - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Trị, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn Tâm: Bà Lê Thị Diệu H - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Trị, có mặt.

* Người phiên dịch: Ông Hồ Văn L; nơi cư trú: Khóm 1, thị trấn Krông Klang, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị, có mặt.

* Đại diện Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã A Dơi, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị: Bà Võ Thị Thu H - Bí thư xã Đoàn, có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Hồ Văn T, sinh năm 2005; nơi cư trú: thôn Proi Xy, xã A Dơi, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

- Anh Hồ Văn M sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn Proi Xy, xã A Dơi, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

- Anh Hồ Văn N, sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn Xa Doan, xã A Dơi, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 10 giờ 15 phút ngày 26/12/2023 tại nhà của Hồ Văn B ở thôn Prin Thành, xã A Dơi, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an huyện Hướng Hoá phối hợp với các lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang Hồ Văn B và Hồ Văn T đang tàng trữ nhiều viên nén màu hồng, màu xanh, ngoài ra còn có nhiều dụng cụ để sử dụng ma túy. Hồ Văn Bi và Hồ Văn T khai nhận các viên nén màu hồng và màu xanh là ma tuý loại hồng phiến, B và T vừa tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý xong, số ma túy còn lại B và T tàng trữ trái phép nhằm mục đích bán lại cho người khác kiếm lời. Tổ công tác đã tạm giữ toàn bộ tang vật liên quan.

Quá trình điều tra, Hồ Văn B và Hồ Văn T khai nhận: B và T có mối quan hệ quen biết từ trước, cả hai đều sử dụng ma túy loại hồng phiến. Thông qua mối quan hệ xã hội, T biết một người đàn ông (không rõ lai lịch) ở khu vực gần sông Sê Pôn thuộc địa phận nước Lào có bán ma túy loại hồng phiến nên thường đến đây mua ma túy về sử dụng.

Khoảng 07 giờ ngày 26/12/2023, Tâm đến nhà của Bai ở thôn Prin Thành, xã A Dơi, huyện Hướng Hoá, tỉnh Quảng Trị chơi, tại đây B nhờ T đi mua ma túy để B bán lại cho người khác kiếm lời, T đồng ý. B đưa 2.000.000 đồng để T đi mua ma tuý. T lấy tiền rồi đi qua khu vực gần sông Sê Pôn gặp người đàn ông nêu trên mua 02 gói ma tuý (khoảng 400 viên) với giá 1.800.000 đồng rồi về giao lại cho B. B bảo T lấy ma túy và dụng cụ để cùng sử dụng. T lấy ra 05 viên ma tuý trong số ma tuý vừa mua, rồi lấy 01 vỏ chai nhựa trong suốt trên thân chai có gắn một đoạn ống tre ở dưới sàn nhà của B, còn B chuẩn bị 02 bật lửa gas màu đỏ và 01 gói thuốc lá. T lấy mảnh giấy kẽm trong gói thuốc lá, bỏ ma túy vào đó, dùng bật lửa đốt ở phía dưới giấy kẽm cho khói bốc lên rồi đưa chai nhựa có gắn ống tre vào để hít khói ma túy qua đường miệng vào cơ thể, cả hai sử dụng hết 05 viên ma tuý.

Sau khi sử dụng ma tuý, B cùng T gói các viên ma tuý vào các mảnh ni lông để thuận tiện cho việc bán lẻ và sử dụng. B trả công cho Tâm 09 viên ma túy, T giấu vào túi quần đang mặc để sử dụng và bán lại kiếm lời. Trong lúc B và T đang gói ma túy thì Hồ Văn N, sinh năm 1983, trú tại thôn Xa Doan, xã A Dơi, huyện Hướng Hoá đến đưa cho T 100.000 đồng để mua ma tuý, T lấy tiền và báo lại cho B, B giao cho T một gói ni lông màu vàng chứa 05 viên ma tuý để T đưa cho N. Một lúc sau, có một nam thanh niên (không rõ lai lịch) đến đưa cho T 40.000 đồng để mua ma tuý, T lấy tiền đưa cho B, B giao cho T 02 viên ma tuý để T đưa cho người này. Đến khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, khi B và T đang gói ma tuý thì bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang, đồng thời tạm giữ các tang vật liên quan.

Cơ quan điều tra đã sử dụng que Test nhanh chất ma túy đối với Hồ Văn B và Hồ Văn T. Kết quả cả hai đều dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Ngoài ra, hai bị can còn khai nhận: Sáng ngày 23/12/2023, B đưa cho T 2.000.000 đồng để T đi mua ma tuý về bán lại cho người khác kiếm lời. Sau khi mua được ma túy, Bi và T bán lại cho Hồ Văn T, sinh năm 2005, trú tại thôn Proi Xy, xã A Dơi, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị 04 viên ma túy với giá 80.000 đồng; bán cho Hồ Văn M, sinh năm 1990, trú tại thôn Proi Xy, xã A Dơi, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị 03 viên ma túy với giá 60.000 đồng. Số ma túy còn lại, B đã sử dụng và bán lại cho nhiều người khác (không rõ lai lịch) với giá 20.000 đồng/01 viên.

Tại Kết luận giám định số 117/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị xác định: Các viên nén màu hồng và màu xanh đã tạm giữ có tổng khối lượng là 36,7795g là ma tuý loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 34/CT-VKSQT-P1 ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Hồ Văn B về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Truy tố Hồ Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Hồ Văn B, Hồ Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hồ Văn Bai, Hồ Văn Tâm phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Văn B từ 16 năm đến 17 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Văn B từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái chất ma túy”

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hồ Văn B phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội từ 22 đến 24 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26/12/2023.

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Văn Tâm từ 10 năm đến 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái chất ma túy”

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 BLHS. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hồ Văn B phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội từ 11 năm đến 11 năm 06 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy và bao gói còn lại sau giám định, một võ chai nhựa trong suốt, hai bật lửa. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 40.000 đồng của Hồ Văn B và số tiền 155.000 đồng của Hồ Văn T.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của các bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo Hồ Văn B, Hồ Văn T đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn Bai: Đồng ý với Cáo trạng truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản truy tố và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo Bai. Tuy nhiên, đề nghị xem xét, đánh giá thái độ thành khẩn, ăn năn hối cãi, tự khai ra các lần mua bán ma túy trước đó của bị cáo để áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn T: Đồng ý với Cáo trạng truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản truy tố và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo T. Tuy nhiên, đề nghị xem xét, đánh giá thái độ thành khẩn, ăn năn hối cãi, tự thú và áp dụng chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất mà Kiểm sát viên đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Quảng Trị, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp đúng quy định pháp luật.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Khoảng 07 giờ ngày 26/12/2023, Bai nhờ T đi mua ma túy để Bai bán lại cho người khác kiếm lời, T đồng ý. B đưa 2.000.000 đồng để T đi mua ma tuý. T lấy tiền rồi đi qua khu vực gần sông Sê Pôn gặp người đàn ông (không rõ lai lịch) mua 02 gói ma tuý (khoảng 400 viên) với giá 1.800.000 đồng về giao lại cho Bai. Sau đó bán cho Hồ Văn N 05 viên ma tuý giá 100.000 đồng; kết quả giám định khối lượng thu giữ tại nhà Bai là 36,7795g ma túy loại Methamphetamine. Như vậy, ngày 26/12/2023, Hồ Văn B và Hồ Văn T đã có hành vi mua 36,7795g ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán cho người khác để kiếm lời nên hành vi của bị cáo Hồ Văn B Hồ văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung“Methamphetamine có khối lượng từ 30 gam đến 100 gam” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, Hồ Văn Bcòn có hành vi cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ cho Hồ Văn T (là người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi) sử dụng trái phép chất ma túy; Hồ Văn T đã có hành vi lấy ma túy, dụng cụ cho Hồ Văn B sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, trong đó Hồ Văn B theo điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung “Người từ đủ 13 tuổi đến 18 tuổi”, bị cáo Hồ Văn T theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hồ Văn T và Hồ Văn B đã bán ma tuý cho Hồ Văn T Hồ Văn Mừ, Hồ Văn N và nam thanh niên (không rõ lai lịch), thuộc trường hợp hai lần trở lên nên phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hồ Văn B xúi dục Hồ Văn T (dưới 18 tuổi) đi mua ma tuý và trực tiếp bán ma tuý cho người khác nên phải chịu thêm tình tiết tăng nặng “xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành bi phạm tội của mình quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Sau khi bị bắt quả tang số ma tuý vào ngày 26/12/2023, bị cáo Hồ Văn Bai và Hồ Văn Tâm đã tự khai ra các lần bản ma tuý ngày 23/12/2023 cho Hồ Văn Tân, Hồ Văn Mừ khi chưa bị phát hiện nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, gia đình bị cáo Hồ Văn T thuộc diện hộ nghèo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Thời điểm phạm tội, bị cáo Hồ Văn T chỉ 17 tuổi 05 ngày nên áp dụng Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự để quyết định mức hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Ma tuý là mối hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây hại cho sức khoẻ con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội. Đồng thời, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Hành vi mua bán ma túy của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo Bavà T nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy bị nghiêm cấm nhưng đã coi thường pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này, B là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Tâm thực hiện hành vi mua ma tuý để bán cho người khác, cung cấp ma tuý, dụng cụ để cùng T thực hiện việc tổ chức xử dụng chất ma tuý, do đó cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung loại tội phạm này trong tình hình hiện nay.

Đánh giá tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng cần chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị; không chấp nhận ý kiến của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Hồ Văn B về việc áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt Hồ Văn B dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà cần xử phạt bị cáo Bai trên mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đảm bảo tính răn đe đối với các bị cáo. Bị cáo Hồ Văn T áp dụng mức hình phạt tù đối với người từ đủ 16 đến 18 tuổi phạm tội.

Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy và bao gói sau giám định, võ chai nhựa trong suốt, bật lửa là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với số tiền 155.000 đồng của Hồ Văn T và 40.000 đồng của Hồ Văn B, đây là số tiền hai bị cáo thu được từ việc bán ma tuý nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Quyết định tạm giam các bị cáo còn lại dưới 45 ngày nên cần tiếp tục ra quyết định tạm giam đối với các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Hồ Văn B, Hồ Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Văn B: 16 (mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Văn B: 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Hồ Văn B phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 23 (hai ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26/12/2023.

- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Văn T: 10 (mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Văn T: 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Hồ Văn Tâm phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 26/12/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ 01 (một) Túi niêm phong ký hiệu NS1 2126527, bên ngoài có chữ ký và họ tên của Nguyễn Thị Thanh Hằng, Lê Anh Tuấn và hình dấu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị (theo Kết luận giám định số 23/KL-KTHS ngày 20/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị) và 01 (một) Túi giấy niêm phong ký hiệu PS1 2108659, bên ngoài có chữ ký và họ tên của Lê Tuấn Anh, Trần Thị Mỹ Dung và hình dấu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị (theo Kết luận giám định số 117/KL-KTHS ngày 02/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị).

+ 01 (một) Vỏ chai nhựa trong suốt, trên thân chai có gắn một đoạn ống Tre.

+ 02 (hai) Bật lửa màu đỏ, đã qua sử dụng.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

Tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam 195.000 đồng (hiện đang đựng trong 01 (một) Phong bì niêm phong được dán kính các mép, mặt trước có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH QUẢNG TRỊ, PHÒNG PC09“ và hình dấu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị, mặt sau tại mép dán có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị (kèm theo Kết luận giám định số 146/KLGĐ-KTHS ngày 04/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị đang bảo quản tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận số 20/2024/BBGN-CSĐT-CA tỉnh Quảng Trị ngày 13/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị và Kho bạc Nhà nước tỉnh Quảng Trị.

(Vật chứng trên hiện có tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08 tháng 05 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị và Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc Hồ Văn B và Hồ Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đại diện hợp pháp và người bào chữa cho bị cáo Hồ Văn Tâm có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Quảng Trị;

- Công an tỉnh Quảng Trị;

- Cục THADS tỉnh Quảng Trị;

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;

- Bị cáo;

- Người tham gia tố tụng;

- Phòng KTNV; tổ HCTP;

- Lưu hồ sơ.

Phan Hồng Phước

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thảo Nguyên - Phan Thị Gái

Phan Hồng Phước

Cỡ chữ