- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phong - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 47/2022/HS- ST Ngày 08/6/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Hải – Giáo viên Tr THCS Cao Xá, huyện Tân Yên 2. Bà Cáp Thị Quyên – Bí thư Đoàn xã Hợp Đức, huyện Tân Yên
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Xuân Tr – Thẩm tra viên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bộ - Kiểm sát viên; Trong ngày 08 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2022/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
* Bị cáo: Họ và tên: Đặng Văn Ph, sinh ngày 29/7/2005
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam
Nơi cư trú: thôn Ch, xã Ngọc Th, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự
do, Trình độ học vấn: 6/12; Họ và tên cha: Đặng Văn Tuấn, sinh năm 1969 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M, sinh năm 1974 hiện ở thôn Chè, xã Ngọc Th, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; Vợ, con: Chưa có; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt quả tang, không bị tạm giữ tạm giam, hiện đang được áp dụng
biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (có mặt tại phiên tòa).
* Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Ph:
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1974 (có mặt) Nơi cư trú: thôn Chè, xã Ngọc Th, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. * Người bào chữa cho bị cáo Ph:
- Ông Thân Văn L - Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Giang. (xin vắng mặt)
- Bà Thân Thị Thúy V - Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Giang. (có mặt) * Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1978 (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn Th, sinh năm 2002 (vắng mặt) Đều trú tại thôn H, xã Ngọc Th, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 21 giờ 30 phút, ngày 09/01/2022, tại gia đình Đặng Văn Ph- sinh ngày
29/7/2005, trú tại thôn Chè, xã Ngọc Th, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; Công an huyện Tân Yên bắt quả tang Đặng Văn Ph có hành vi sản xuất hàng cấm và tàng trữ hàng cấm (là pháo). Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm:
- Thu giữ tại tủ đựng quần áo trong phòng ngủ tầng 2 nhà Đặng Văn Ph:
+ 04 khối hình hộp vỏ ngoài bọc giấy màu, trên giấy in hoa văn và chữ
nước ngoài, bên trong mỗi khối hình hộp có chứa các vật hình trụ tròn, vỏ giấy liên kết với nhau bằng dây dẫn (nghi là pháo).
+ 01 cuộn dây màu đỏ có nhiều vật hình trụ tròn liên kết với nhau bằng dây
dẫn (nghi là pháo nổ).
+ 169 vật hình trụ tròn, vỏ giấy có kích thước khác nhau, trên mỗi vật hình
trụ tròn này đều gắn dây dẫn.
- Thu tại bàn uống nước trong phòng ngủ: 01 hộp nhựa, màu đen bên trong
chứa chất bột màu đen (nghi là thuốc nổ).
- 01 điện thoại di động Iphone 11 màu xanh, số Imei 354396705258576,
điện thoại cũ đã qua sử dụng. (BL 73, 74).
Cùng ngày 09/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên
tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Văn Ph, quá trình khám xét khẩn cấp thu giữ các vật chứng sau:
- Thu giữ tại vị trí sát tường giữa tủ quần áo và cửa sổ trong phòng ngủ của
Ph, tại tầng 2 bên trái theo hướng cầu thang lên:
+ 01 khẩu súng có chiều dài là 1,35m, có báng bằng gỗ dài 0,85m, phía dưới
báng gỗ có gắn 01 bình nhựa hình trụ tròn màu đen.
+ 01 khẩu súng có chiều dài là 1,57m, có báng bằng gỗ dài 0,87m, phía dưới
báng gỗ có 01 gắn bình trụ tròn, bằng nhựa màu ghi.
- Thu giữ tại gầm giường, phòng đầu tiên bên trái của tầng 1 theo hướng từ
ngoài cửa nhà vào:
+ 01 khẩu súng tự chế có chiều dài là 1,295m, có báng bằng gỗ dài 0,70cm,
phía dưới báng gỗ gắn 01 bình nhựa được cuốn băng dính màu đen.
+ 01 con dao bằng kim loại màu trắng, có tổng chiều dài 1,30m, chuôi dao
dài 0,87m, đầu lưỡi dao vát nhọn.
+ 01 con dao có tổng chiều dài 1,375m bằng kim loại màu trắng, chuôi dao
dài 1,5m, có đầu lưỡi dao nhọn. (BL 81, 82).
Ngày 10/01/2022 Đặng Văn Ph tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra:
01 (một) cuộn nilong màu trắng, loại sử dụng để bọc thực phẩm; 03 (ba) vỏ lọ keo nhãn hiệu 502 màu trắng; 01 (một) con dao dọc giấy dài 10 cm vát hai đầu, không có cán dao.
Quá trình điều tra, Đặng Văn Ph khai do có mối quan hệ quen biết từ trước
với Nguyễn Văn Tr- sinh năm 1978 và Nguyễn Văn Th- sinh năm 2002, đều trú tại thôn Hương, xã Ngọc Th, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang và muốn mua pháo về để đốt nên khoảng tháng 11/2021, Ph mua của Tr 02 bệ pháo loại 36 quả/01 bệ với giá 700.000 đồng/01 bệ, vào thời gian tháng 12/2021 Ph tiếp tục mua của Tr 01 bánh pháo tép với giá 2.000.000 đồng và mua của Nguyễn Văn Th 02 bệ pháo loại 36 quả/01 bệ với giá 1.000.000 đồng/01 bệ. Sau khi mua được pháo của Tr và Th thì Ph mang về nhà cất giấu số pháo tại tủ quần áo trong phòng ngủ của mình mục đích để đốt dịp Tết Nguyên đán 2022.
Cùng thời gian tháng 11/2021, Ph truy cập mạng Internet tìm hiểu cách chế
tạo pháo nổ. Sau đó, Ph vào sàn thương mại điện tử Shopee đặt mua 01 kg KNO3; 0,5kg Natri; 0,5kg lưu huỳnh với giá 500.000 đồng. Ph chuẩn bị các vật dụng giấy, cát, keo 502, túi nilon để làm pháo bằng cách cuốn giấy thành các vật hình trụ tròn, sử dụng giấy và keo 502 hàn kín một đầu, sau đó trộn hóa chất với tỉ lệ 06 KNO3: 05Natri: 02 Lưu huỳnh trộn đều và đổ đầy vào vật giấy hình tròn, tiếp đó gắn dây dẫn rồi đổ thêm một lớp cát trên bề mặt và dùng keo 502 hàn kín. Dây dẫn Ph làm bằng cách sử dụng túi nilon cuốn thành dây rồi đổ hóa chất theo tỷ lệ 01 KNO3: 01 Natri làm chất cháy chậm. Ph đã sử dụng hết hóa chất để sản xuất pháo.
Căn cứ lời khai của Ph, ngày 11/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công
an huyện Tân Yên tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Th và Nguyễn Văn Tr.
Quá trình khám xét khẩn cấp thu giữ tại nhà Nguyễn Văn Tr:
- Thu giữ tại góc trong cùng bên trái theo hướng từ cửa vào cửa nhà bếp: 02
khối hình hộp, vỏ ngoài mỗi khối hình hộp bọc giấy màu, trên giấy in hoa văn và chữ nước ngoài, trong mỗi khối hình hộp có các vật hình trụ tròn vỏ giấy liên kết với nhau bằng dây dẫn (nghi là pháo nổ), được đựng trong thùng nhựa màu đỏ, đường kính miệng thùng 46cm.
- Thu tại ngăn dưới cùng bên phải của tủ màu xanh- trắng đặt trong phòng
ngủ của Nguyễn Văn Tr tại tầng 2: 01 khối hình hộp vỏ ngoài bọc giấy màu, trên giấy in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong khối hộp có các vật hình trụ tròn, vỏ giấy liên kết với nhau bằng dây dẫn (nghi là pháo nổ), đựng trong túi ni lon màu trắng.
Tất cả số vật chứng trên được trong 01 thùng cát tông để trong túi ni lon màu
đen, được đánh số “A01”.
- Thu giữ tại góc trong cùng bên phải theo hướng từ cửa vào cửa nhà bếp: 25
vật hình trụ tròn, vỏ giấy có kích thước khác nhau, trên mỗi vật hình trụ một đầu gắn dây dẫn; 01 vật hình trụ tròn, vỏ giấy không gắn dây dẫn; 03 đoạn dây dẫn; 01 mảnh túi nilon màu trắng; 01 chiếc đũa; một số tờ giấy vở học sinh đã bị cắt thành mảnh. Tất cả đựng trong thùng cát tông để trong túi ni lon màu đen, được đánh số “A02”. (BL 87).
* Kết quả khám xét thu giữ tại nhà Nguyễn Văn Th:
- Thu giữ ở khu vực chứa đồ cũ lợp mái ngói ngoài cùng hướng Đông của
vườn thuộc nơi ở của gia đình Th:
+ 01 thùng giấy cát tông màu vàng có chữ OMO bên trong chứa 55 vật hình
trụ tròn, vỏ giấy có các kích thước khác nhau, đánh số “B01”.
+ 01 thùng giấy cát tông màu vàng - đỏ có chữ “sữa chua uống tiệt trùng
hương kem dâu” bên trong chứa 08 vật hình trụ tròn, vỏ giấy có các kích thước khác nhau, đánh số “B02”.
+ 01 thùng giấy cát tông màu vàng bên trong chứa 40 vật hình trụ tròn, vỏ
giấy có các kích thước khác nhau, đánh số “B03”.
+ 01 hộp nhựa màu trắng, nắp màu đỏ, bên trong chứa chất bột màu vàng.
- Thu giữ tại trên tấm kim loại phía trên ban thờ đối diện cửa nhà: 01 túi
nilon màu đen bên trong đựng 02 khối hình hộp, vỏ ngoài bọc giấy màu, trên giấy in hoa văn và chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối hình hộp có các vật hình trụ vỏ giấy liên kết với nhau bằng dây dẫn (nghi là pháo nổ).
- Thu giữ tại tủ chạn đựng bát trong nhà bếp: 01 vật hình trụ tròn, vỏ giấy.
(BL 94).
Số vật chứng trên được đánh số “B04”.
Tại Kết luận giám định số: 232/C09-P2 ngày 22 tháng 01 năm 2022 của
Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận (đối với vật chứng thu giữ của Đặng Văn Ph):
- 06 vật hình trụ vỏ giấy, đầu mỗi vật gắn dây ngòi, đựng trong 01 thùng bìa
cát tông đánh số 01 đều là pháo nổ, khối lượng là 08kg.
- 118 vật hình trụ, vỏ giấy, kích thước khác nhau, đầu mỗi vật có gắn dây
ngòi đều là pháo nổ. Khối lượng là 4,3kg và chất bột màu đen đựng trong 01 hộp nhựa màu đen là thuốc pháo nổ. Khối lượng là 0,1kg. Tất cả đựng trong thùng bìa cát tông, đánh số 01.
- 45 vật hình trụ vỏ giấy, đầu mỗi vật gắn dây ngòi, đựng trong 01 thùng bìa
cát tông đánh số 03 đều là pháo nổ, khối lượng là 6,3kg.
- 02 khối hộp, vỏ bằng giấy màu, bên trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ,
vỏ giấy được liên kết với nhau, đựng trong 01 thùng bìa cát tông, đánh số 04 đều là pháo nổ. Khối lượng là 2,8kg.
- 02 khối hộp, vỏ bằng giấy màu, bên trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ,
vỏ giấy được liên kết với nhau, đựng trong 01 thùng bìa cát tông, đánh số 05 đều là pháo nổ. Khối lượng là 2,8kg.
- Các vật hình trụ, vỏ giấy màu đỏ, đầu mỗi vật gắn dây ngòi, được liên kết
với nhau thành tràng (01 tràng), đựng trong 01 bao tải dứa màu trắng đều là pháo nổ. Khối lượng là 1,8kg.
Tổng khối lượng pháo là 26kg.
Tại Kết luận giám định số 152/KL-KTHS ngày 20/01/2022 của Phòng Kỹ
thuật Hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận (đối với vật chứng thu giữ khi khám xét nhà Nguyễn Văn Tr):
- Trong 01 (một) thùng bìa cát tông đánh số “A01” đã được niên Ph gửi
giám định:
+ 02 (hai) khối hình hộp, bên ngoài mỗi khối được bọc giấy màu in hoa văn
và chữ nước ngoài, bên trong gồm 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ, vỏ giấy, được liên kết với nhau bằng dây dẫn đều là Pháo hoa nổ, có khối lượng 2,9kg (hai phẩy chín ki lô gam).
+ 01 (một) khối hình hộp, bên ngoài được bọc giấy màu in hoa văn và chữ
nước ngoài, bên trong gồm 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ, vỏ giấy, được liên kết với nhau bằng dây dẫn (đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng) là Pháo hoa nổ, có khối lượng 1,4kg (một phẩy tư ki lô gam).
- Trong 01 (một) thùng bìa cát tông đánh số “A02” đã được niên Ph gửi
giám định: Trong 01 (một) tui ni lon màu đen, bên trong có 01 (một) thùng cát tông:
+ 25 (hai mươi lăm) vật hình trụ, vỏ giấy, có nhiều kích thước khác nhau,
một đầu gắn dây dẫn đều là Pháo hoa nổ, có khối lượng 4,6kg (bốn phẩy sáu ki lô gam).
+ 01 (một) vật hình trụ, vỏ giấy, không gắn dây dẫn không phải là pháo.
(Pháo nổ và pháo hoa nổ được quy định tại Nghị định 137/2020/NĐ-CP,
ngày 27/11/2020 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo).
Tại Kết luận giám định số 153/KL-KTHS ngày 20/01/2022 của Phòng Kỹ
thuật Hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận (đối với vật chứng thu giữ khi khám xét nhà Nguyễn Văn Th):
- Trong 01 (một) thùng bìa cát tông đánh số “B01” đã được niêm Ph gửi
giám định: 55 (năm mươi lăm) vật hình trụ, vỏ giấy, có nhiều kích thước khác nhau đều không phải là pháo. Tổng khối lượng 11,4kg (một một phẩy bốn ki lô gam).
- Trong 01 (một) thùng bìa cát tông đánh số “B02” đã được niên Ph gửi
giám định: 08 (tám) vật hình trụ, vỏ giấy, có nhiều kích thước khác nhau đều không phải là pháo. Tổng khối lượng 4,0kg (bốn ki lô gam).
- Trong 01 (một) thùng bìa cát tông đánh số “B03” đã được niêm Ph gửi
giám định: 40 (bốn mươi) vật hình trụ, vỏ giấy, có nhiều kích thước khác nhau đều không phải là pháo. Tổng khối lượng 4,6kg (bốn phẩy sáu ki lô gam).
- Trong 01 (một) thùng bìa cát tông đánh số “B04” đã được niêm Ph gửi
giám định:
+ 02 (hai) khối hình hộp, bên ngoài mỗi khối được bọc nhiều giấy màu sắc,
có chữ nước ngoài, bên trong gồm 36 (ba mươi sáu) vật hình trụ, vỏ giấy, được liên kết với nhau (được đựng trong 01 (một) túi ni lon màu đen) đều là Pháo hoa nổ, có khối lượng 2,8kg (hai phẩy tám ki lô gam).
+ 01 (một) vật hình trụ, vỏ giấy không phải là pháo. Khối lượng là 1,0kg
(một phẩy không ki lô gam).
(Pháo nổ và pháo hoa nổ được quy định tại Nghị định 137/2020/NĐ-CP,
ngày 27/11/2020 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo).
Tại Kết luận giám định số 154/KL-KTHS ngày 20/01/2022 của Phòng Kỹ
thuật Hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: 03 (ba) khẩu súng gửi giám định là súng hơi cồn tự tạo, có tính năng tác dụng tương tự súng săn, không thuộc vũ khí quân dụng.
Tại Kết luận giám định số 642/KL-KTHS ngày 17/02/2022 của Viện khoa
học hình sự- Bộ Công an kết luận (đối với vật chứng thu giữ khi khám xét nhà Nguyễn Văn Th): Mẫu vật gửi giám định là thuốc pháo nổ, thường được dùng để sản xuất pháo nổ, có khối lượng là 480g (bốn trăm tám mươi gam). Thuốc pháo nổ không thuộc nhóm vật liệu nổ.
Ngày 26/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Yên tiến
hành thực nghiệm điều tra cho Đặng Văn Ph thực nghiệm lại hành vi trộn thuốc pháo, cuốn pháo, cuốn dây ngòi, gắn dây ngòi. Kết quả thực nghiệm phù hợp với lời khai của bị can và vật chứng thu giữ.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Tr đã khai nhận về nguồn gốc số pháo thu
giữ như sau: Khoảng tháng 01/2021, Tr được một người đàn ông là thương lái mua lợn của nhà Tr cho 03 bệ pháo loại 36 quả/01 bệ, đến khoảng thời gian tháng 02/2021, Tr định mang số pháo này ra để đốt vào ngày cưới của con trai nhưng người thân trong gia đình không cho đốt nên Tr có cất giấu trong nhà. Đến khoảng giữa tháng 12/2021, Tr lại được người đàn ông là thương lái mua lợn của nhà Tr cho 01 bánh pháo tép. Do trước đó Ph có hỏi mua pháo của Tr nên khi Tr được cho 01 bánh pháo tép thì Tr đã bán lại cho Ph với giá 2.000.000 đồng, Tr khẳng định không bán 02 bệ pháo loại 36 quả/01 bệ cho Ph. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã cho Ph và Tr đối chất nhưng cả hai đều giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của Ph ra không có tài liệu nào chứng minh việc Tr bán 02 bệ pháo cho Ph nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Văn Tr về việc bán 02 bệ pháo cho Ph.
Về số pháo cuốn bằng giấy đựng trong thùng giấy cát tông Tr khai là của
Nguyễn Văn Quyền- sinh năm 2010 (con trai Tr).
Ngày 11/01/2022, Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Yên đã tạm giữ của
Nguyễn Văn Quyền: 01 cân đồng hồ lò xo nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 05kg và 01 hộp nhựa hình chữ nhật màu vàng trên vỏ có ký tự chữ nước ngoài, bên trong hộp có chứa 04 lưỡi dao dạng innox. Cháu Quyền khai cân và lưỡi dao Quyền dùng để chế tạo thành pháo tại nhà Quyền. Đồng thời Quyền khai nhận về nguồn gốc số vật chứng thu giữ là 25 vật hình trụ tròn, vỏ giấy có kích thước khác nhau, trên mỗi vật hình trụ một đầu gắn dây dẫn; 01 vật hình trụ tròn, vỏ giấy không gắn dây dẫn; 03 đoạn dây dẫn; 01 mảnh túi nilon màu trắng; 01 chiếc đũa; một số tờ giấy vở học sinh đã bị cắt thành mảnh; 04 lưỡi dao dạng innox là pháo và các công cụ để Quyền sản xuất ra pháo. 01 cân đồng hồ lò xo nhãn hiệu Nhơn Hòa, loại 05kg là do Quyền mua của một người không quen biết thu mua sắt vụn đi qua nhà Quyền vào khoảng thời gian tháng 4/2022.
Nguyễn Văn Th khai nhận về nguồn gốc số pháo thu giữ: Khoảng tháng
01/2021, Th thấy có người đăng bán pháo trên mạng xã hội Facebook nên đặt mua được 04 bệ pháo loại 36 quả/01 bệ với giá 2.400.000 đồng với mục đích bán kiếm lời. Đến giữa tháng 12/2021, Th đến nhà Đặng Văn Ph chơi, qua nói chuyện biết Ph có nhu cầu mua pháo nên Th bán cho Ph 02 bệ pháo với giá 2.000.000 đồng , còn lại 02 bệ Th cất giấu tại nhà thì bị Công an khám xét thu giữ.
Tại Cáo trạng số 43/CT - VKS, ngày 12/5/2022 Viện kiểm sát nhân dân
huyện Tân Yên đã truy tố Đặng Văn Ph “Sản xuất hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình và tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã nêu, bị cáo có ý kiến đề nghị HĐXX xem xét bị cáo tuổi đời còn trẻ chưa nhận Th đầy đủ mong muốn được hưởng sự khoan hồng cho bị cáo hưởng án treo. Người bào chữa cho bị cáo là bà V trình bày: Bà V nhất trí về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị HĐXX xem xét hoàn cảnh bị cáo không còn bố, tuổi đời còn trẻ nên nhận Th chưa đầy đủ, suy nghĩa bồng bột, nông cạn nên đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo từ 16 đến 18 tháng về tội “sản xuất hàng cấm” cho bị cáo hưởng án treo, xử phạt từ 4 đến 6 tháng về tội “Tàng trữ hàng cấm” cho bị cáo hưởng án treo, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo, để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm làm người công dân có ích cho xã hội. Người đại diện hợp pháp của bị cáo là bà M trình bày: Bà là mẹ của bị cáo Ph, bà không biết con trai sản xuất, tàng trữ pháo, bà đề nghị HĐXX xem xét hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo mất bố khi còn nhỏ, tuổi đời còn trẻ chưa nhận Th đầy đủ nên mong muốn được hưởng sự khoan hồng cho bị cáo hưởng án treo.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên giữ
nguyên bản cáo trạng và đề nghị HĐXX căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Đặng Văn Ph từ 18 - 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 - 40 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Đặng Văn Ph từ 6 - 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 - 16 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Căn cứ Điều 55; Điều 103 BLHS tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là 24 - 28 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48
- 56 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đặng Văn Ph cho UBND xã Ngọc Th, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện
Tân Yên; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và hình phạt: Tại phiên toà, bị cáo có mặt đã khai nhận về
hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định, phù hợp, biên bản thực nghiệm điều tra, lời khai của người có quyền L, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ do Cơ quan điều tra thu thập về thời gian, không gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 21 giờ 30 phút ngày 09/01/2022, tại gia đình Đặng Văn Ph- sinh ngày 29/7/2005, trú tại thôn Chè, xã Ngọc Th, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang; Công an huyện Tân Yên bắt quả tang Đặng Văn Ph có hành vi tàng trữ là 7,4kg pháo nổ mục đích để đốt. Ngoài ra Đặng Văn Ph còn có hành vi sản xuất 18,6kg pháo nổ mục đích để đốt.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, tuổi đời
còn trẻ, suy nghĩ bồng bột và tự truy cập vào trang mạng Youtobe xem các video dạy cách chế tạo pháo rồi học theo dẫn đến hành vi đặt mua các loại hóa chất về pha trộn theo tỷ lệ nhằm mục đích để chế tạo thành thuốc pháo do đó đã có hành vi sản xuất 18,6 kg pháo nổ và có hành vi tàng trữ là 7,4kg pháo nổ tại tủ quần áo phòng ngủ, mục đích để đốt. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định bị cáo đã phạm tội “Sản xuất hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình và tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự như tội danh và điều luật mà cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về ý kiến của người đại diện hợp pháp, người bào chữa cho bị cáo Ph, tại
phiên tòa bà M, bà V đều nhất trí về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo từ 16 đến 18 tháng về tội “sản xuất hàng cấm” cho bị cáo hưởng án treo, xử phạt từ 4 đến 6 tháng về tội “Tàng trữ hàng cấm” cho bị cáo hưởng án treo, đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo, để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm. HĐXX thấy bị cáo Ph là người có nhân thân tốt, tuổi đời còn trẻ, khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi, nhận Th còn chưa đầy đủ, mục đích sản xuất và tàng trữ pháo chỉ vì suy nghĩ bồng bột muốn đốt trong dịp tết nguyên đán phục vụ cho thú vui của bản thân.
Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy
tố cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có đóng góp công sức tích cực tham gia trong thời gian phòng chống dịch bệnh covid -19 tại thôn xóm, bị cáo có bà nội là bà Nguyễn Thị Thao được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, có ông nội là ông Đặng Tấn Nam được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tội “Tàng trữ hàng cấm”, HĐXX thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc Tr hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội này nên khi quyết định hình phạt HĐXX xem xét các tính tiết nêu trên để quyết định mức hình phạt đối với bị cáo.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo là người chưa thành
niên nhận Th chưa đầy đủ, việc xử lý người dưới 18 tuổi chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đã họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nên không cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội cũng có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phù hợp Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và Nghị quyết 01/2022/NQ - HĐTP, ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao nên cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên và người bào chữa là có căn cứ chấp nhận.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng
hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Đối với Nguyễn Văn Tr là người bán cho Ph 01 bánh pháo tép trọng
lượng 1,8kg với giá 2.000.000 đồng; Nguyễn Văn Th là người bán cho Ph 02 bệ pháo, trọng lượng 2,8kg với giá 1.000.000 đồng/01 bệ và hành vi tàng trữ trái phép 4,3kg pháo nổ của Nguyễn Văn Tr, hành vi tàng trữ trái phép 2,8 kg pháo nổ và thuốc pháo (480gam thuốc pháo) của Nguyễn Văn Th chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nhưng đã vi phạm hành chính. Do vậy, Cơ quan điều tra chuyển đồ vật, tài liệu liên quan đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Tân Yên để xử lý vi phạm hành chính theo quy định.
Đối với Nguyễn Văn Quyền có hành vi sản xuất 4,6 kg pháo chưa đủ yếu tố
cấu thành tội phạm, Tuy nhiên, Nguyễn Văn Quyền là trẻ em dưới 14 tuổi nên không xem xét xử phạt vi phạm hành chính đối với Quyền.
Đối với người đàn ông cho Nguyễn Văn Tr 03 bệ pháo, Tr không biết tên,
tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên không đủ căn cứ xác minh, làm rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách phần tài liệu liên quan để tiếp tục xác minh đến khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông bán pháo cho Th, Th không quen biết, không nhớ
đặc điểm của người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tách phần tài liệu liên quan đến người đàn ông này để tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Về nguồn gốc của số hóa chất mà Ph khai đã mua về để sản xuất pháo: Quá
trình điều tra xác định, bị can Ph mua hóa chất để chế tạo thành thuốc pháo trên Shopee, Công ty Shopee đã cung cấp thông tin tài khoản người bán hóa chất cho Ph là Hoàng Văn Thăng- sinh năm 1999, trú tại thôn Pò Đứa, xã M Pha, thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Quá trình làm việc Thăng khai nhận mục đích bán hóa chất là để bón cây trồng, không phải để sản xuất pháo và không biết Đặng Văn Ph là ai nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Thăng.
[6] Về vật chứng: Đối với số đồ vật gồm: 01 khẩu súng dài 1,35m, có báng gỗ dài 0,85m, phía dưới báng gỗ có gắn 01 bình nhựa hình trụ tròn màu đen; 01 khẩu súng dài 1,57m, có báng gỗ dài 0,87m, phía dưới báng gỗ có gắn 01 bình trụ tròn, bằng nhựa màu ghi; 01 khẩu súng dài 1,295m, có báng gỗ dài 0,70cm, phía dưới báng gỗ có gắn 01 bình nhựa được cuốn băng dính màu đen; 01 con dao bằng kim loại màu trắng, có tổng chiều dài 1,30m, chuôi dao dài 0,87m, đầu lưỡi dao vát nhọn; 01 con dao có tổng chiều dài 1,375m bằng kim loại màu trắng, chuôi dao dài 1,3m, có đầu lưỡi dao nhọn. Bị cáo Ph khai nhận là số đồ vật trên của bố đẻ là ông Đặng Văn Tuấn- sinh năm 1966 để lại nhưng ông Tuấn đã chết ngày 20/6/2019. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển số đồ vật này đến Công an huyện Tân Yên để xử lý theo quy định của pháp luật.
+ Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh, số
Imei 354396705258576 là điện thoại của Ph dùng để giao dịch, liên lạc mua hóa chất, pháo vẫn còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước. + Đối với 05 (năm) vật trụ tròn, vỏ giấy, đầu mỗi vật có gắn dây ngòi; 117 (một trăm mười bảy) vật hình trụ, vỏ giấy, đầu mỗi vật có gắn dây ngòi và chất bột màu đen đựng trong 01 hộp nhựa màu đen; 44 (bốn mươi bốn) vật hình trụ, vỏ giấy, đầu mỗi vật có gắn dây ngòi, 01 khối hộp, vỏ bằng giấy màu, bên trong mỗi khối hộp có 35 vật hình trụ, vỏ giấy được liên kết với nhau; 03 khối hộp, vỏ bằng giấy màu, bên trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ, vỏ giấy được liên kết với nhau; Các vật hình trụ, vỏ giấy màu đỏ, đầu mỗi vật gắn dây ngòi, đươc liên kết với nhau thành tràng (01 tràng đã bị tách xé). Tất cả số vật chứng trên được đựng trong 04 thùng bìa cát tông và 01 (một) bao tải dứa được niêm Ph bằng các chữ ký, hoàn lại sau giám định; 01 (một) cuộn nilong màu trắng, loại sử dụng để bọc thực phẩm; 03 (ba) vỏ lọ keo nhãn hiệu 502 màu trắng; 01 (một) con dao dọc giấy dài 10 cm vát hai đầu, không có cán dao đựng trong 01 (một) Ph bì thư. Tất cả được niêm Ph trong thùng bìa cáttông có chữ ký của những người tham gia; 01 vật hình trụ tròn vỏ giấy, một đầu gắn dây ngòi (mô phỏng quả pháo trong quá trình thực nghiệm điều tra) được niêm Ph trong hộp cáttông có chữ ký của những người tham gia và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Tân Yên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều
21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Ph (do chị Nguyễn Thị M là đại diện hợp pháp của Ph) phải chịu
200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp, người có quyền
L nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190, điểm c khoản 1 Điều 191, Điều 91,
Điều 101, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 55, Điều 103 Bộ luật hình sự ;
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều
106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Điều 423, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333, Điều 336 của
Bộ luật tố tụng hình sự;
Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14
của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn Ph 18 tháng tù về tội “sản xuất hàng cấm”,
cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm và 06 tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Ngọc Th, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
2. Về vật chứng:
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu
Iphone 11, màu xanh, số IMEI: 354396705258576, bên trong điện thoại gắn sim điện thoại hỗ trợ 4G số thuê bao 0565.432.455, trên sim có số 8984050919 và số 1043745674. Điện thoại cũ đã qua sử dụng, được niêm Ph trong 01 Ph bì thư có chữ ký của những người tham gia và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra.
- Tịch thu tiêu hủy: 05 (năm) vật trụ tròn, vỏ giấy, đầu mỗi vật có gắn dây ngòi; 117 (một trăm mười bảy) vật hình trụ, vỏ giấy, đầu mỗi vật có gắn dây ngòi và chất bột màu đen đựng trong 01 hộp nhựa màu đen; 44 (bốn mươi bốn) vật hình trụ, vỏ giấy, đầu mỗi vật có gắn dây ngòi, 01 khối hộp, vỏ bằng giấy màu, bên trong mỗi khối hộp có 35 vật hình trụ, vỏ giấy được liên kết với nhau; 03 khối hộp, vỏ bằng giấy màu, bên trong mỗi khối hộp có 36 vật hình trụ, vỏ giấy được liên kết với nhau; Các vật hình trụ, vỏ giấy màu đỏ, đầu mỗi vật gắn dây ngòi, đươc liên kết với nhau thành tràng (01 tràng đã bị tách xé). Tất cả số vật chứng trên được đựng trong 04 thùng bìa cát tông và 01 (một) bao tải dứa được niêm Ph bằng các chữ ký, hoàn lại sau giám định; 01 (một) cuộn nilong màu trắng, loại sử dụng để bọc thực phẩm; 03 (ba) vỏ lọ keo nhãn hiệu 502 màu trắng; 01 (một) con dao dọc giấy dài 10 cm vát hai đầu, không có cán dao đựng trong 01 (một) Ph bì thư. Tất cả được niêm Ph trong thùng bìa cáttông có chữ ký của những người tham gia; 01 vật hình trụ tròn vỏ giấy, một đầu gắn dây ngòi (mô phỏng quả pháo trong quá trình thực nghiệm điều tra) được niêm Ph trong hộp cáttông có chữ ký của những người tham gia và hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Tân Yên.
3. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp có mặt có quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Tân Yên; - Công an huyện Tân Yên; - Chi cụcTHADS huyện Tân Yên; - Bị cáo; Người đại diện hợp pháp; - Người có QLNVLQ; - Lưu Hs, Vp. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Thị Hải Cáp Thị Quyên | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Duyên THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Duyên |