vanban.org

Bản án 47/2022/DS-ST — Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hồng Phúc đối với bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến phải trả cho ông Lê Hồng Phúc tổng số tiền còn nợ là 505.470.000đ (Trong đó, tiền nợ gốc là 332.000.000đ, nợ lãi là 173.470.000đ). Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hồng Phúc đối với bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2022/DS-ST.
Ngày: 20/6/2022.
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Đào

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh – Cán bộ hưu trí

Bà Thiều Thị Phi Loan – Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Loan – Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 559/2021/TLST-DS, ngày 21 tháng 6 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2022/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 5 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 550/2022/QĐST-DS, ngày 27/5/2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Hồng Ph, sinh năm: 1968.

Địa chỉ: Số 1421/25, khu phố 2, phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Dƣơng Đức V, sinh năm: 1992.

Địa chỉ: Số 234/14, khu phố 2, phường Trung Dũng, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến.

Địa chỉ: Số 79A, tổ 18, khu phố 3, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Thanh Tuấn – Chủ tịch Công ty kiêm giám đốc.

(Anh Văn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Dương Đức Văn trình bày:

Do ông Lê Hồng Phúc có mối quan hệ quen biết từ trước với ông Ngô Thanh Tuấn là giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến nên ngày 30/02/2016, ông Phúc có cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến vay số tiền 332.000.000đ, thời hạn vay là 06 tháng (từ ngày 30/02/2016 đến ngày 30/8/2016), không thỏa thuận lãi suất. Tuy nhiên, đến hạn trả nợ tiền vay nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến không trả được số nợ trên. Vì biết Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến đang gặp khó khăn nên ông Phúc đã đồng ý gia hạn trả nợ cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến nhiều lần. Cuối năm 2020 thì ông Phúc không thể nào gia hạn thêm được nên yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tuyên buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến phải trả cho ông Phúc số tiền nợ gốc là 332.000.000đ, nợ lãi tính đến ngày xét xử 20/6/2022 là (332.000.000đ x 10%/năm x 69 tháng 20 ngày) = 192.744.000đ.

Ngày 19/6/2022, anh Dương Đức Văn có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện với nội dung thay đổi về lãi suất chậm trả theo đó, đề nghị Tòa án tuyên buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Tiến Thành thanh toán số tiền lãi chậm trả từ ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ 30/8/2016 đến ngày xét xử sơ thẩm (20/6/2022) với số tiền 332.000.000đ x 9%/năm x 69 tháng 20 ngày = 173.470.000đ. Như vậy, tổng số tiền nguyên đơn yêu cầu là 505.470.000đ trong đó, tiền nợ gốc là 332.000.000đ, nợ lãi là 173.470.000đ.

- Đối với bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt tại các buổi làm việc, hòa giải và các phiên tòa nên không có lời trình bày.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Việc chấp hành pháp luật của bị đơn là không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hồng Phúc đối với bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến phải trả cho ông Phúc số tiềng nợ gốc là 332.000.000đ và số tiền nợ lãi tính đến ngày 20/6/2022 là 173.470.000đ. Về án phí Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về và quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Ông Lê Hồng Phúc khởi kiện yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến phải trả cho ông Phúc số tiền nợ gốc là 332.000.000đ và số tiền nợ lãi tính đến ngày 20/6/2022 là 173.470.000đ nên căn cứ vào Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định ông Phúc là nguyên đơn, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến là bị đơn trong vụ án.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến có trụ sở tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai căn cứ vào Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Về thủ tục tố tụng khác: Ngày 12/4/2022, anh Dương Đức Văn là người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Hồng Phúc có đơn xin vắng mặt, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt anh Văn và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến.

Về nội dung: Ông Phúc khởi kiện yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến có trách nhiệm phải thanh toán số tiền nợ gốc là 332.000.000đ và số tiền nợ lãi tính đến ngày 20/6/2022 là 173.470.000đ.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Phúc về số tiền nợ gốc 332.000.000đ là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ, ông Phúc khởi kiện và cung cấp được chứng cứ là hợp đồng vay tiền ngày 30/2/2016 (Bút lục 05) thể hiện việc ông Phúc có cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến vay số tiền 332.000.000đ.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Phúc về số tiền nợ lãi chậm trả do Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến đến hạn trả nợ nhưng không trả được nợ với số tiền là (332.000.000đ x 9/5/năm x 69 tháng 20 ngày) = 173.470.000đ là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005.

Theo Công văn số 386/ĐKKD ngày 12/11/2021 của Phòng đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Đồng Nai cho biết thì hiện nay Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến hiện có đăng ký trụ sở tại địa chỉ số 79A, tổ 18, khu phố 3, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, itnh3 Đồng Nai. Người đại diện theo pháp luật là ông Ngô Thanh Tuấn. Tòa án đã tiến hành niêm yết các thủ tục tố tụng cho bị đơn theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, người đại diện theo pháp luật của bị đơn không đến Tòa để làm việc, cung cấp chứng cứ, hòa giải và xét xử nên được coi là trường hợp bỏ mặc việc Tòa án giải quyết tranh chấp giữa các đương sự.

Về án phí: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 24.218.800đ. Hoàn trả lại cho ông Phúc số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.684.000đ theo biên lai thu số 0001687 ngày 14/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, 68, Điều 147; Điều 203, Điều 220, Điều 227, 228, Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng khoản 2 Điều 305; Điều 471; 474 Bộ luật dân sự năm 2005;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Hồng Phúc đối với bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến phải trả cho ông Lê Hồng Phúc tổng số tiền còn nợ là 505.470.000đ (Trong đó, tiền nợ gốc là 332.000.000đ, nợ lãi là 173.470.000đ).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán các khoản tiền nêu trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Về án phí: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Bảo Thành Tiến phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 24.218.800đ. Hoàn trả lại cho ông Phúc số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 11.684.000đ theo biên lai thu số 0001687 ngày 14/6/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ