vanban.org

Bản án 47/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 15/10/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh H - 02 (hai) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Tuyên bố bị cáo Trần Thanh S phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm — đang xem Bản án 47/2021/HS-ST Tuyên án 15/10/2021
Phúc thẩm Bản án 68/2022/HSPT-QĐ Tuyên án 28/02/2022

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tổ chức đánh bạc và đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 47/2021/HS-ST
Ngày: 15-10-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Duy Oanh;

Ông Nguyễn P Triển.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mãi - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 10 năm 2021, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2021/TLST-HS, ngày 17 tháng 5 năm 2021; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2021/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 6 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 140/2021/HSST-QĐ, ngày 23 tháng 6 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 160/2021/HSST-QĐ, ngày 14 tháng 7 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 193/2021/HSST-QĐ, ngày 13 tháng 8 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số: 231/2021/HSST-QĐ, ngày 09 tháng 9 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 262/2021/HSST-QĐ, ngày 30 tháng 9 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Thanh H, sinh năm: 1993, tại Đồng Tháp; Nơi cư trú: 773/3, ấp T P, xã T P, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Vĩnh V và bà Cao Thị H (chết); Tiền án, tiền sự: Không; Không bị bắt tạm giữ, tạm giam; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo hiện đang tại ngoại tại: 773/3, ấp T P, xã T P, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Trần Thanh S, sinh năm: 1976, tại Đồng Tháp; Tên gọi khác: S C; Nơi cư trú: 118A, ấp T Đ, xã T T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị T; Có vợ và 02 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 01/9/2020 bị Công an huyện Lai Vung xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, đã đóng phạt ngày 07/9/2020; Nhân thân: Ngày 11/12/2012 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/5/2013, đã xóa án tích; Tạm giữ: Từ ngày 26/11/2020 đến ngày 05/12/2020; Tạm giam: Từ ngày 05/12/2020 đến ngày 23/02/2021 được cho tại ngoại; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo hiện đang tại ngoại tại: 118A, ấp T Đ, xã T T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Trương Thanh Q - sinh năm: 1999. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 221, ấp A B, xã Đ Y, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

2. Dương Minh S - sinh năm: 1983. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 80/5, ấp T T, xã T P, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

3. Hồ Thị Ngọc L - sinh năm: 1977. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 325, ấp B A, xã B T, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

4. Phạm Văn Út E - sinh năm: 1980. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 779/3, ấp T P, xã T P, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

5. Chiêm Nhựt M - sinh năm: 1988. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 168, ấp B L, xã B T, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

6. Huỳnh Kim T - sinh năm: 1975. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 652A/6, ấp T P, xã T P, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

7. Nguyễn Thị T - sinh năm: 1988. (vắng mặt)

Nơi cư trú: Tổ 22, ấp A K, xã T A T, huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

8. Phạm Thị Điệp A - sinh năm: 1985. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 114, ấp B H B, xã B T T, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

9. Trương Văn Lập - sinh năm: 1996. (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp A B, xã Đ Y, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

10. Nguyễn Văn T - sinh năm: 1980. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 14/5, ấp T Q, xã T P, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

11. Nguyễn Trường N - sinh năm: 1989.

Nơi cư trú: 8/63, K p 6, phường B A, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

12. Trương Hồng H - sinh năm: 1986. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 449, ấp A T, xã H A, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

13. Đỗ Văn Ú - sinh năm: 1975. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 143, ấp A L A, xã Đ Y, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

14. Huỳnh Văn P - sinh năm: 1980. (vắng mặt)

Nơi cư trú: ấp T P, xã T P, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

15. Đỗ Vĩnh V - sinh năm: 1970. (có mặt)

Nơi cư trú: 773/3, ấp T P, xã T P, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

16. Hà M S - sinh năm: 1985. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 407/TĐ, ấp T Đ, xã T T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

17. Trần Văn Đ - sinh năm: 1973. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 652/6, ấp T P, xã T P, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

18. Cao Thị Đ - sinh năm: 1979. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 76A/TB, ấp T B, xã T T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

19. Ký Văn Đồng - sinh năm: 1972. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 149/TĐ, ấp T Đ, xã T T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

20. Nguyễn Trường S - sinh năm: 1984. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 509, ấp B A, xã B T, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

1. Tống Thị M H - sinh năm: 1988. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 449, ấp A T, xã H A, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

2. Nguyễn Thanh H - sinh năm: 1957. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 236/1, ấp Đ M, xã Đ H, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

3. Phạm Tấn H - sinh năm: 1968. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 611, ấp B L, xã B T, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.

4. Trần Thị Kim C - sinh năm: 1982. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 130, ấp T Đ, xã T T, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

5. Lê Bình D - sinh năm: 1982. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 294, K 1, thị trấn L V, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

6. Phạm Hoàng D - sinh năm: 1987. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 42, ấp L T, xã H L, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

7. Trịnh Lan P - sinh năm: 1981. (vắng mặt)

Nơi cư trú: 622, K 1, thị trấn L V, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/11/2020, Đỗ Thanh H biết phần đất vườn của ông Ký Văn C, ở ấp T Đ, xã T T, huyện Lai Vung không có người canh tác, trông coi nên H chuẩn bị các dụng cụ để đánh bạc lắc tài xỉu gồm: 03 hột xí ngầu, 01 chén sành và bộ bài tây, cung cấp ghế ngồi, nước uống, bình ắc quy, bóng đèn v.v.. để phục vụ cho những người đánh bạc. H điện thoại rủ nhiều người đến đánh bạc, quy định cách chia tiền thắng khi người làm cái (lắc tài xỉu) có ván bảo (ván có 03 hột xí ngầu có số nút giống nhau). Người tên T (không rõ họ tên và địa chỉ) làm cái để H và 14 người khác đặt tiền, mỗi ván đặt từ 50.000 đồng đến 1.000.000 đồng, T làm cái được khoảng hơn 60 phút (không rõ bao nhiêu ván), tổng số tiền của những người đặt ăn thua với T là 21.740.000 đồng, trong đó: Đỗ Thanh H 1.300.000 đồng (H lấy xâu của T 02 ván bảo được 1.300.000 đồng, H đặt khoảng 05 ván, mỗi ván từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng, H thua hết 1.300.000 đồng); Trần Thanh S 700.000 đồng (S dùng 700.000 đồng đặt tổng cộng 03 ván, hai ván đầu mỗi ván 200.000 đồng, ván cuối đặt 300.000 đồng, cả 03 ván đều thua hết 700.000 đồng); Nguyễn Trường N khai dùng 5.000.000 đồng để đánh bạc, Trương Hồng H 3.000.000 đồng, Nguyễn Văn T 3.000.000 đồng, Huỳnh Kim T 2.500.000 đồng, Nguyễn Thị T 1.500.000 đồng, Dương M S 1.200.000 đồng, Phạm Thị Điệp A 1.000.000 đồng, Phạm Văn Út E 890.000 đồng, Đỗ Văn Ú 800.000 đồng, Chiêm Nhựt M 500.000 đồng, Trương Thanh Q 200.000 đồng, Trương Văn L 100.000 đồng và Huỳnh Văn P 50.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, T đang làm cái để nhiều người khác đặt tiền ván tiếp theo thì bị Cơ quan điều tra Công an huyện Lai Vung bắt quả tang, tạm giữ các vật chứng và tài sản gồm:

- Dụng cụ dùng để đánh bạc lắc tài xỉu: 03 hột xí ngầu, 01 cái chén nhỏ bằng sành, 01 cái nắp bằng nhựa, màu vàng, 01 bộ bài tây đã qua sử dụng, 01 quyển tập học sinh có ghi tên “Nguyễn Thế K”, 03 lá bài tây từ lá “Ách” đến lá 3, có dán băng keo màu đen ở giữa, 03 lá bài tây từ lá 4 đến lá 6, có dán băng keo màu đen ở giữa.

- 01 bình ắc quy, loại 12V; 01 sợi dây điện dài 5,1 mét, một đầu có gắn 01 bóng đèn; 01 tấm cao su màu cam-xanh; 01 thùng giấy có chứa 10 chai nước đóng chai; 01 thùng nhựa màu xanh; 24 cái ghế bằng nhựa (gồm: 09 cái ghế bằng nhựa màu xanh, kích thước 23 x 23 x 26 cm; 09 cái ghế bằng nhựa màu xanh, kích thước 27 x 27 x 45 cm; 06 cái ghế bằng nhựa màu đỏ, kích thước 23 x 23 x 26 cm).

- 53 chiếc dép các loại; 02 cái nón kết bằng vải, màu đen; 01 cái nón bảo hiểm, màu đỏ; 01 cái nón bảo hiểm màu đen.

- Thu tổng số tiền 182.000.000 đồng, trong đó:

+ 800.000 đồng cách chiếu bạc 03 mét và 38.800.000 đồng tại gốc cây cam cách chiếu bạc 5,3 mét, tổng cộng là 39.600.000 đồng không rõ chủ sở hữu.

+ 800.000 đồng của Dương Thanh S, 4.500.000 đồng của Nguyễn Trường N, 2.200.000 đồng của Nguyễn Văn T, 2.500.000 đồng của Phạm Thị Điệp A, 300.000 đồng của Chiêm Nhựt M và 650.000 đồng Phạm Văn Út E dùng để đánh bạc.

+ 700.000 đồng của Đỗ Thanh H, 5.600.000 đồng của Hồ Thị Ngọc L, 77.000.000 đồng của Nguyễn Thị T và 1.700.000 đồng của Ký Văn Đ không dùng để đánh bạc.

+ 15.000.000 đồng của Huỳnh Kim T (trong đó 2.500.000 đồng dùng đánh bạc, 12.500.000 đồng để tiêu dùng cá nhân), 31.450.000 đồng của Trương Hồng H (trong đó có 450.000 đồng dùng đánh bạc, 31.000.000 đồng tiêu dùng cá nhân).

- Thu 12 xe mô tô, bao gồm:

+ 01 xe mô tô hiệu Fusaco, màu bạc, biển số 66P1-887.62 của Đỗ Thanh H (H mượn xe của cha ruột là ông Đỗ Vĩnh V, ông V mua của chị Trịnh Lan P chưa đăng ký S tên, ông V không biết H sử dụng xe vào việc tổ chức đánh bạc).

+ 01 xe mô tô hiệu Yamaha, màu đen-trắng, biển số 66L1-658.50 của Trần Thanh S (S mượn xe của chị Cao Thị Đ).

+ 01 xe mô tô hiệu Sinuda, màu xanh, biển số 66L5-3204 của Dương Thanh S (S mua xe của ông Lê M D, chưa đăng ký S tên).

+ 01 xe mô tô hiệu Wait, màu đỏ, biển số 66H2-7711 của Chiêm Nhựt M (M mua xe của anh Nguyễn Thanh H chưa đăng ký S tên).

+ 01 xe mô tô hiệu Honda, màu đỏ-đen-bạc, biển số 66L1-390.64 của Huỳnh Kim T. 01 xe mô tô hiệu Honda, màu trắng-bạc-đen, biển số 66V1-737.14 của Phạm Thị Điệp A (Điệp A mua xe của chị Mai Thị N chưa đăng ký S tên).

+ 01 xe mô tô hiệu Honda, màu xanh-đen-bạc, biển số 67L2-290.39 của Trương Hồng H (H mượn xe của vợ là Tống Thị M H).

+ 01 xe mô tô hiệu Honda, màu xanh, biển số 66L1-174.79 của Ký Văn Đ (Đ mượn xe của anh Nguyễn Trường S).

+ 01 xe mô tô hiệu Lisohaka, màu đỏ, biển số 66K8-8859 của Trương Thanh Q (Q mua xe của Hà M S, chưa đăng ký S tên).

+ 01 xe mô tô hiệu Honda, màu xanh ghi, biển số 66H1-3610 của Đỗ Văn Ú.

+ 01 xe mô tô hiệu Yamaha, màu đen, biển số 66L1-261.62 của Huỳnh Văn P (P mượn xe của anh Trần Văn Đ).

+ 01 xe mô tô hiệu Some, màu xanh-bạc, biển số 66N5-0336 của Trương Văn L (L mua xe của anh Phạm Tấn H, chưa đăng ký S tên).

- Thu 24 điện thoại di động (ĐTDĐ), bao gồm:

+ 02 ĐTDĐ cùng hiệu Nokia màu đen, loại nút bấm tại chiếu bạc, không rõ chủ sở hữu.

+ 03 ĐTDĐ của Đỗ Thanh H (trong đó: 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, loại bàn phím bấm, màu đen của H dùng để liên lạc rủ nhiều người đến đánh bạc lắc tài xỉu; còn 01 ĐTDĐ hiệu iphone, màu trắng và 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, loại màn hình cảm ứng, màu đen của H để liên lạc cá nhân).

+ 01 ĐTDĐ hiệu iphone, loại 11 Promax, màu xám của Trần Thanh S.

+ 01 ĐTDĐ hiệu Samsung, màu xanh dương của Dương Thanh S.

+ 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, loại bàn phím bấm, màu cam của Hồ Thị Ngọc L.

+ 01 ĐTDĐ hiệu Samsung, màu xanh sẫm và 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, loại bàn phím bấm, màu xanh của Phạm Văn Út E.

+ 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, loại bàn phím bấm, màu đen của Chiêm Nhựt M.

+ 01 ĐTDĐ hiệu Samsung, màu hồng của Nguyễn Thị T.

+ 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, loại bàn phím bấm, màu đen của Phạm Thị Điệp A.

+ 01 ĐTDĐ hiệu iphone, loại 6Plus, màu bạc của Nguyễn Văn T.

+ 01 ĐTDĐ hiệu iphone, loại 6, màu trắng và 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, loại bàn phím bấm, màu xanh của Nguyễn Trường N.

+ 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, loại bàn phím bấm, màu đen và 01 ĐTDĐ hiệu Oppo, màu hồng của Trương Hồng H.

+ 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, màu trắng-đỏ; 01 ĐTDĐ hiệu Itel, màu đen và 01 ĐTDĐ hiệu iphone, loại 6, màu bạc của Ký Văn Đ.

+ 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, loại bàn phím bấm, màu đen và 01 ĐTDĐ hiệu Oppo, màu hồng nhạt của Trương Thanh Q.

Cơ quan điều tra Công an huyện Lai Vung đã trả lại các tài sản do không dùng vào việc đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc như:

Trả cho Hồ Thị Ngọc L 5.600.000 đồng và 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, loại bàn phím bấm, màu cam; Nguyễn Thị T 77.000.000 đồng và 01 ĐTDĐ hiệu Samsung, màu hồng; Huỳnh Kim T 12.500.000 đồng và 01 xe mô tô hiệu Honda, màu đỏ-đen-bạc, biển số 66L1-390.64; Trương Hồng H 31.000.000 đồng, 01 xe mô tô hiệu Honda, màu xanh-đen-bạc, biển số 67L2-290.39, 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, loại bàn phím bấm, màu đen và 01 ĐTDĐ hiệu Oppo, màu hồng; Chiêm Nhựt M 01 xe mô tô hiệu Wait, màu đỏ, biển số 66H2-7711 và 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, loại bàn phím bấm, màu đen; Dương Thanh S 01 xe mô tô hiệu Sinuda, màu xanh, biển số 66L5-3204 và 01 ĐTDĐ hiệu Samsung, màu xanh dương; Phạm Thị Điệp A 01 xe mô tô hiệu Honda, màu trắng-bạc-đen, biển số 66V1-737.14 và 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, loại bàn phím bấm, màu đen; Trương Thanh Q 01 xe mô tô hiệu Lisohaka, màu đỏ, biển số 66K8-8859, 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, loại bàn phím bấm, màu đen và 01 ĐTDĐ hiệu Oppo, màu hồng nhạt; Đỗ Văn Ú 01 xe mô tô hiệu Honda, màu xanh ghi, biển số 66H1-3610; Trương Văn L 01 xe mô tô hiệu Some, màu xanh-bạc, biển số 66N5-0336 và 01 ĐTDĐ hiệu Samsung, màu xanh ngọc; Phạm Văn Út E 01 ĐTDĐ hiệu Samsung, màu xanh sẫm và 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, loại bàn phím bấm, màu xanh; Nguyễn Văn T 01 ĐTDĐ hiệu iphone, loại 6Plus, màu bạc; Ký Văn Đ 1.700.000 đồng, 01 ĐTDĐ hiệu Nokia, màu trắng-đỏ; 01 ĐTDĐ hiệu Itel, màu đen và 01 ĐTDĐ hiệu iphone, loại 6, màu bạc; Đỗ Vĩnh V 01 xe mô tô hiệu Fusaco, màu bạc, biển số 66P1-887.62; Cao Thị Đ 01 xe mô tô hiệu Yamaha, màu đen-trắng, biển số 66L1-658.50; Nguyễn Trường S 01 xe mô tô hiệu Honda, màu xanh, biển số 66L1-174.79; Trần Văn Đ 01 xe mô tô hiệu Yamaha, màu đen, biển số 66L1-261.62.

Ngày 04/12/2020, Cơ quan điều tra Công an huyện Lai Vung ban hành Thông báo số 01/TB-CSĐT-TH gửi Trung tâm truyền hình Việt Nam tại thành phố Cần Thơ (Địa chỉ VTV Cần Thơ - số 407, đường 30/4, phường H L, thành phố Cần Thơ) và Đài truyền thanh huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháo về việc thông báo tìm chủ sở hữu đối với các vật chứng, tài sản gồm: Tổng số tiền 39.600.000 đồng thu giữ ở khu vực xung quanh chiếu bạc; 53 chiếc dép các loại; 02 cái nón kết bằng vải, màu đen; 01 cái nón bảo hiểm, màu đỏ; 01 cái nón bảo hiểm màu đen và 02 ĐTDĐ cùng hiệu Nokia màu đen, loại nút bấm, nhưng đến nay chưa xác định được chủ sở hữu tài sản.

Tại bản cáo trạng số 21/CT-VKS, ngày 06/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, đã truy tố Đỗ Thanh H ra trước Toà án nhân dân huyện Lai Vung, để xét xử về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự; truy tố Trần Thanh S ra trước Toà án nhân dân huyện Lai Vung, để xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Kiểm sát viên ông Nguyễn Văn Mãi thay cho Kiểm sát viên bà Lê Thị Thu Phương được các bị cáo đồng ý việc thay đổi Kiểm sát viên và không có ý kiến gì.

- Bị cáo Đỗ Thanh H đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo về tội “Tổ chức đánh bạc”.

- Bị cáo Trần Thanh S đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Vĩnh V trình bày: Ông là cha của bị cáo H, xe mô tô hiệu Fusaco, màu bạc, biển số 66P1-887.62 là xe của ông, ông mua xe lại của chị Trịnh Lan P chưa đăng ký S tên, H mượn xe của ông và sử dụng xe vào việc tổ chức đánh bạc thì ông không biết, hiện tại ông đã nhận lại xe và không trình bày gì thêm.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Khẳng định việc truy tố như Bản cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Khoảng 20 giờ ngày 25/11/2020, Đỗ Thanh H cung cấp các dụng cụ, phương tiện để tổ chức đánh bạc lắc tài xỉu như: 03 hột xí ngầu, 01 chén sành, bộ bài tây, ghế ngồi, nước uống, bình ắc quy, bóng đèn ... và rủ nhiều người đến phần đất vườn của ông Ký Văn C ở ấp T Đ, xã T T, huyện Lai Vung đánh bạc nhằm mục đích lấy tiền xâu. Người tên T (không rõ họ tên và địa chỉ) làm cái để H và 14 người khác đặt tiền, mỗi ván đặt từ 50.000 đồng đến 1.000.000 đồng, tổng số tiền của H và 14 người đặt ăn thua với T là 21.740.000 đồng thì bị bắt quả tang. Trong đó, Trần Thanh S là người bị xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, S tiếp tục dùng 700.000 đồng đặt tổng cộng 03 ván ăn thua trực tiếp với T, mỗi ván từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, cả 03 ván đều thua hết 700.000 đồng; khi thực hiện hành vi các bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo Trần Thanh S tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng để đảm bảo chấp hành hình phạt bổ sung, hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh kinh tế khó khăn (có xác nhận của UBND xã T T, huyện Lai Vung) nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự tuyên bố Đỗ Thanh H phạm tội “Tổ chức đánh bạc” với mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam; áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự tuyên bố Trần Thanh S phạm tội “Đánh bạc” với mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù giam. Về hình phạt bổ sung áp dụng khoản 3 Điều 322 của Bộ luật hình sự phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Thanh H từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng và áp dụng khoản 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự không phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Thanh S do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Về trách nhiệm dân sự: Không có.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 03 hột xí ngầu, 01 cái chén nhỏ bằng sành, 01 cái nắp bằng nhựa, màu vàng, 01 bộ bài tây đã qua sử dụng, 01 quyển tập học sinh có ghi tên “Nguyễn Thế K”, 03 lá bài tây từ lá “Ách” đến lá 3, có dán băng keo màu đen ở giữa, 03 lá bài tây từ lá 4 đến lá 6, có dán băng keo màu đen ở giữa.

+ 01 bình ắc quy, loại 12V; 01 sợi dây điện dài 5,1 mét, một đầu có gắn 01 bóng đèn; 01 tấm cao su màu cam-xanh; 01 thùng giấy có chứa 10 chai nước đóng chai; 01 thùng nhựa màu xanh; 24 cái ghế bằng nhựa (gồm: 09 cái ghế bằng nhựa màu xanh, kích thước 23 x 23 x 26 cm; 09 cái ghế bằng nhựa màu xanh, kích thước 27 x 27 x 45 cm; 06 cái ghế bằng nhựa màu đỏ, kích thước 23 x 23 x 26 cm).

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, loại bàn phím bấm của Đỗ Thanh H; 800.000 đồng của Dương Thanh S; 4.500.000 đồng của Nguyễn Trường N; 2.200.000 đồng của Nguyễn Văn T; 2.500.000 đồng của Phạm Thị Điệp A; 300.000 đồng của Chiêm Nhựt M; 650.000 đồng của Phạm Văn Út E; 2.500.000 đồng của Huỳnh Kim T; 450.000 đồng của Trương Hồng H dùng để đánh bạc.

- Buộc Đỗ Thanh H nộp 1.700.000 đồng là tiền thu lợi bất chính; Đỗ Văn Ú nộp 600.000 đồng là tiền dùng đánh bạc để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

+ Trả cho Nguyễn Trường N 01 điện thoại di động hiệu iphone, màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu hiệu Nokia, màu xanh, loại bàn phím bấm.

- Trả lại cho Đỗ Thanh H 700.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu iphone 6, màu trắng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, màn hình cảm ứng; Trả lại cho Trần Thanh S 01 điện thoại di động hiệu iphone 11, màu xám, nH giao các tài sản này cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

- Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp quản lý các vật chứng và tài sản chưa xác định được chủ sở hữu gồm: Số tiền 39.600.000 đồng, 53 chiếc dép các loại, 02 cái nón kết bằng vải màu đen, 01 cái nón bảo hiểm màu đỏ, 01 cái nón bảo hiểm màu đen và 02 điện thoại di động cùng hiệu Nokia màu đen loại nút bấm thu giữ ở khu vực xung quanh chiếu bạc. Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày 04/12/2020 Cơ quan điều tra Công an huyện Lai Vung đã thông báo truy tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng vẫn chưa xác định được chủ sở hữu tài sản thì Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử lý các tài sản này theo quy định của pháp luật.

- Trả lại cho bị cáo Trần Thanh S số tiền 10.000.000 đồng mà S đã nộp theo biên lai thu tiền số 017476, ngày 10/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung.

(Hiện vật chứng, tiền và tài sản trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).

Bị cáo Trần Thanh S và bị cáo Đỗ Thanh H thống nhất với Bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lai Vung, không tranh luận gì. Bị cáo nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên của huyện Lai Vung trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo: Bị cáo Đỗ Thanh H đã có hành vi cung cấp các dụng cụ, phương tiện để tổ chức đánh bạc lắc tài xỉu như: 03 hột xí ngầu, 01 chén sành, bộ bài tây, ghế ngồi, nước uống, bình ắc quy, bóng đèn ... và rủ nhiều người đến phần đất vườn của ông Ký Văn C ở ấp T Đ, xã T T, huyện Lai Vung đánh bạc nhằm mục đích lấy tiền xâu, trong đó người tên T (không rõ họ tên và địa chỉ) làm cái để H và 14 người khác đặt tiền, mỗi ván đặt từ 50.000 đồng đến 1.000.000 đồng, tổng số tiền của H và 14 người đặt ăn thua với T là 21.740.000 đồng thì bị bắt quả tang; Bị cáo Trần Thanh S là người bị xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc, chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, S tiếp tục dùng 700.000 đồng đặt tổng cộng 03 ván ăn thua trực tiếp với T, mỗi ván từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng, cả 03 ván đều thua hết 700.000 đồng; lời khai của các bị cáo là phù hợp hiện trường vụ án, vật chứng thu giữ, phù hợp lời khai những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó lời nhận tội của các bị cáo là có căn cứ. Các bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, số tiền mà bị cáo Trần Thanh S dùng để tham gia đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng bị cáo S đã có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc, lại tiếp tục phạm tội, đây là tình tiết định khung hình phạt đối với bị cáo S. Nên hành vi của bị cáo Đỗ Thanh H có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Tổ chức đánh bạc” phạm vào điểm a, c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Trần Thanh S có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” phạm vào khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại điểm a, c khoản 1, khoản 3 Điều 322 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Tổ chức cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc tổ chức 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;

…………

c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên”

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nH đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Về tính chất, mức độ tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, kỷ cương pháp luật bị xâm hại, xâm phạm đến khách thể là trật tự công cộng, được luật hình sự bảo vệ, đánh bạc là một tệ nạn xã hội, pháp luật nghiêm cấm, vì nó là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác, thậm chí gây mất hạnh phúc trong gia đình, bị mọi người và xã hội lên án, thế nhưng bất chấp tất cả và ý thức không tôn trọng luật pháp mà các bị cáo đã tổ chức cho các đối tượng khác đánh bạc với hình thức lắc tài xỉu ăn thua bằng tiền để lấy tiền xâu và các bị cáo cũng trực tiếp tham đặt cược, vì vậy việc đưa các bị cáo ra xét xử công khai như ngày hôm nay là cần thiết, đồng thời nhằm mục đích giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, đã làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội ở địa phương, quần chúng bất bình, gây dư luận xấu trong địa bàn. Tuy nhiên sau khi phạm tội các bị cáo tỏ ra ăn năng hối cải, nên cần phải có mức hình phạt tương xứng để các bị cáo từ bỏ hành vi phạm tội. Ngoài ra cần phạt bổ sung đối với các bị cáo để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

Đối với bị cáo Trần Thanh S do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.

Khi điều tra Đỗ Thanh H khai nhận ngoài lần bị bắt quả tang vào ngày 25/11/2020, H còn tổ chức đánh bạc lắc tài xỉu khoảng 05 lần khác, mỗi lần có khoảng 04 đến 15 người tham gia đánh bạc, H lấy xâu mỗi ngày từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng (cũng có ngày nhà cái lắc tài xỉu không có ván bảo thì H không lấy được tiền xâu), tổng cộng khoảng 1.700.000 đồng, H đã tiêu dùng cá nhân hết. Tuy nhiên, H không nhớ rõ từng lần tổ chức đánh bạc có những ai đánh bạc, số tiền dùng đánh bạc và kết quả thắng thua như thế nào. Trong quá trình điều tra và truy tố, không có chứng cứ khác để chứng minh hành vi tổ chức đánh bạc của H trong 05 lần này, đồng thời trước ngày 25/11/2020, H chưa có tiền án hoặc tiền sự về hành vi tổ chức đánh bạc hoặc đánh bạc. Do đó, không có đủ căn cứ để xử lý Đỗ Thanh H đối với 05 lần tổ chức đánh bạc trước ngày 25/11/2020.

Ngoài ra H nghĩ phần đất vườn của ông Ký Văn C ở ấp T Đ, xã T T, huyện Lai Vung do Trần Thanh S quản lý nên hỏi S cho H tổ chức đánh bạc lắc tài xỉu tại đây để H lấy tiền xâu rồi chia với S theo tỷ lệ 7:3, S có trả lời “Mày làm gì thì làm, tao không biết, tao có tiền sự đánh bạc nên sợ lắm rồi”, nói xong thì S bỏ đi, H nghĩ S đồng ý cho H tổ chức đánh bạc. Từ đầu tháng 11/2020 đến ngày 25/11/2020 bị bắt quả tang, H tổ chức lắc tài xỉu tổng cộng khoảng 06 lần, thu tiền xâu được tổng cộng khoảng 3.000.000 đồng, H đã tiêu dùng cá nhân hết, không có chia tiền xâu lại cho S và S cũng không có đòi tiền H.

Đối với Trần Thanh S khai: Lúc H hỏi S cho tổ chức đánh bạc thì S đã trả lời không đồng ý, S không có bàn bạc chia tiền xâu với H, không giúp sức H tổ chức đánh bạc, đồng thời S cũng không nhận được tiền hay lợi ích gì khác từ H. Trong quá trình điều tra và truy tố, không có chứng cứ khác để chứng M Trần Thanh S cùng tổ chức đánh bạc với Đỗ Thanh H. Do đó, không có đủ căn cứ để xử lý Trần Thanh S đồng phạm với Đỗ Thanh H về hành vi tổ chức đánh bạc. Cơ quan điều tra Công an huyện Lai Vung tiếp tục điều tra, làm rõ, khi có đủ căn cứ thì xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 13 người tham gia chơi tài xỉu, đặt tiền ăn thua trực tiếp với nhà cái Thăng (không rõ họ tên, địa chỉ) gồm: Đỗ Thanh H, Trương Hồng H, Nguyễn Văn T, Huỳnh Kim T, Nguyễn Thị T, Dương M S, Phạm Thị Điệp A, Phạm Văn Út E, Đỗ Văn Ú, Chiêm Nhựt M, Trương Thanh Q, Trương Văn L và Huỳnh Văn P, mỗi ván đặt từ 50.000 đồng đến 1.000.000 đồng, số tiền dùng để đặt tài xỉu của các đối tượng này dưới 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra đến nay, chưa xác định được họ tên, địa chỉ của người tên T, nên chưa xác định được số tiền của T dùng để làm cái lắc tài xỉu ăn thua với 13 người này, đồng thời về nhân thân những người này chưa có tiền án hoặc tiền sự về hành vi tổ chức đánh bạc hoặc đánh bạc. Do đó, chưa đủ căn cứ để xử lý đối tượng tên T, Đỗ Thanh H, Trương Hồng H, Nguyễn Văn T, Huỳnh Kim T, Nguyễn Thị T, Dương M S, Phạm Thị Điệp Anh, Phạm Văn Út E, Đỗ Văn Ú, Chiêm Nhựt M, Trương Thanh Q, Trương Văn L và Huỳnh Văn P về hành vi đánh bạc. Cơ quan điều tra Công an huyện Lai Vung tiếp tục điều tra, làm rõ, khi có đủ căn cứ thì xử lý các đối tượng này theo quy định của pháp luật.

Riêng đối với Nguyễn Trường N, trong quá trình điều tra và truy tố, chỉ có duy nhất lời khai của N dùng 5.000.000 đồng để đặt tài xỉu ăn thua với T, nhưng hiện nay không truy tìm và làm việc được với N, đồng thời không có chứng cứ nào khác để chứng minh Nam tham gia đánh bạc 5.000.000 đồng. Do đó, Cơ quan điều tra Công an huyện Lai Vung tiếp tục điều tra, làm rõ, khi có đủ căn cứ thì xử lý Nguyễn Trường N theo quy định của pháp luật.

Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, nhưng qua các lời khai có trong hồ sơ đều phù hợp và đúng như nội dung vụ án.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Riêng đối với bị cáo Trần Thanh S tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng để đảm bảo chấp hành hình phạt bổ sung, hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh kinh tế khó khăn (có xác nhận của UBND xã T T, huyện Lai Vung) đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Kiểm sát viên đề nghị giải quyết nội dung vụ án này là đúng quy định pháp luật, Hội đồng xét xử đồng ý với quan điểm của Kiểm sát viên.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 03 hột xí ngầu, 01 cái chén nhỏ bằng sành, 01 cái nắp bằng nhựa, màu vàng, 01 bộ bài tây đã qua sử dụng, 01 quyển tập học sinh có ghi tên “Nguyễn Thế K”, 03 lá bài tây từ lá “Ách” đến lá 3, có dán băng keo màu đen ở giữa, 03 lá bài tây từ lá 4 đến lá 6, có dán băng keo màu đen ở giữa vì là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

+ 01 bình ắc quy, loại 12V; 01 sợi dây điện dài 5,1 mét, một đầu có gắn 01 bóng đèn; 01 tấm cao su màu cam-xanh; 01 thùng giấy có chứa 10 chai nước đóng chai; 01 thùng nhựa màu xanh; 24 cái ghế bằng nhựa (gồm: 09 cái ghế bằng nhựa màu xanh, kích thước 23 x 23 x 26 cm; 09 cái ghế bằng nhựa màu xanh, kích thước 27 x 27 x 45 cm; 06 cái ghế bằng nhựa màu đỏ, kích thước 23 x 23 x 26 cm).

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, loại bàn phím bấm của Đỗ Thanh H; 800.000 đồng của Dương Thanh S; 4.500.000 đồng của Nguyễn Trường N; 2.200.000 đồng của Nguyễn Văn T; 2.500.000 đồng của Phạm Thị Điệp A; 300.000 đồng của Chiêm Nhựt M; 650.000 đồng của Phạm Văn Út E; 2.500.000 đồng của Huỳnh Kim T; 450.000 đồng của Trương Hồng H dùng để đánh bạc.

- Buộc Đỗ Thanh H nộp 1.700.000 đồng là tiền thu lợi bất chính; Đỗ Văn Ú nộp 600.000 đồng là tiền dùng đánh bạc để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

+ Trả cho Nguyễn Trường N 01 điện thoại di động hiệu iphone, màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu hiệu Nokia, màu xanh, loại bàn phím bấm.

- Trả lại cho Đỗ Thanh H 700.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu iphone 6, màu trắng và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, màn hình cảm ứng; Trả lại cho Trần Thanh S 01 điện thoại di động hiệu iphone 11, màu xám, nhưng giao các tài sản này cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

- Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp quản lý các vật chứng và tài sản chưa xác định được chủ sở hữu gồm: Số tiền 39.600.000 đồng, 53 chiếc dép các loại, 02 cái nón kết bằng vải màu đen, 01 cái nón bảo hiểm màu đỏ, 01 cái nón bảo hiểm màu đen và 02 điện thoại di động cùng hiệu Nokia màu đen loại nút bấm thu giữ ở khu vực xung quanh chiếu bạc. Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày 04/12/2020 Cơ quan điều tra Công an huyện Lai Vung đã thông báo truy tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng vẫn chưa xác định được chủ sở hữu tài sản thì Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử lý các tài sản này theo quy định của pháp luật.

- Trả lại cho bị cáo Trần Thanh S số tiền 10.000.000 đồng mà S đã nộp theo biên lai thu tiền số 017476, ngày 10/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung, do không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

(Hiện vật chứng, tiền và tài sản trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).

Về trách nhiệm dân sự: Không có, nên không xem xét.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thanh H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Thanh H - 02 (hai) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Căn cứ khoản 3 Điều 322 của Bộ luật hình sự. Phạt bổ sung đối với bị cáo Đỗ Thanh H số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh S phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh S - 01 (một) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/11/2020 đến ngày 23/02/2021.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 03 hột xí ngầu, 01 cái chén nhỏ bằng sành, 01 cái nắp nhựa màu vàng, 01 bộ bài tây đã qua sử dụng, 01 quyển tập có tên “Nguyễn Thế K”, 03 lá bài tây từ lá “Ách” đến lá 3 có dán băng keo ở giữa, 03 lá bài tây từ lá 4 đến lá 6 có dán băng keo ở giữa vì là công cụ sử dụng vào việc phạm tội.

+ 01 bình ắc quy 12V; 5,1 mét dây diện màu xanh có gắn bóng đèn; 01 tấm nhựa cao su (một mặt màu cam, một mặt màu xanh); 01 thùng có chứa 10 chai nước suối; 01 thùng nhựa màu xanh; 24 cái ghế bằng nhựa (gồm: 09 cái ghế bằng nhựa nhỏ màu xanh, kích thước 23 x 23 x 26 cm; 09 cái ghế bằng nhựa lớn màu xanh, kích thước 27 x 27 x 45 cm; 06 cái ghế bằng nhựa nhỏ màu đỏ, kích thước 23 x 23 x 26 cm).

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, loại bàn phím bấm số imel 353120118328938 của Đỗ Thanh H (đã qua sử dụng, đã niêm phong có chữ ký của Nguyễn M T); 800.000 đồng của Dương Thanh S; 4.500.000 đồng của Nguyễn Trường N; 2.200.000 đồng của Nguyễn Văn T; 2.500.000 đồng của Phạm Thị Điệp A; 300.000 đồng của Chiêm Nhựt M; 650.000 đồng của Phạm Văn Út E; 2.500.000 đồng của Huỳnh Kim T; 450.000 đồng của Trương Hồng H.

- Buộc Đỗ Thanh H nộp 1.700.000 đồng là tiền thu lợi bất chính; Đỗ Văn Ú nộp 600.000 đồng là tiền dùng đánh bạc để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

+ Trả cho Nguyễn Trường N 01 điện thoại di động hiệu iphone, màu trắng số imel 35568707002763; 01 điện thoại di động hiệu hiệu Nokia, màu đen số imel 358884071009992, loại bàn phím bấm (đã qua sử dụng, đã niêm phong có chữ ký của Nguyễn M Tuấn).

- Trả lại cho Đỗ Thanh H 700.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu iphone 6, màu trắng số imel 356566081953630 và 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu đen, màn hình cảm ứng số imel1 3569290914610, số imel2 356929091536045 (đã qua sử dụng, đã niêm phong có chữ ký của Nguyễn M T); Trả lại cho Trần Thanh S 01 điện thoại di động hiệu iphone 11, màu xám số imel1 353921102760188, số imel2 3353921102688363 (đã qua sử dụng, đã niêm phong có chữ ký của Nguyễn M Tuấn), nhưng giao các tài sản này cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

- Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp quản lý các vật chứng và tài sản chưa xác định được chủ sở hữu gồm: Số tiền 39.600.000 đồng (Thu giữ cách chiếu bạc 3m 800.000 đồng, thu giữ ở gốc cam cách chiếu bạc 5,3m 38.800.000 đồng), 53 chiếc dép các loại, 02 cái nón kết màu đen, 01 cái nón bảo hiểm màu đỏ, 01 cái nón bảo hiểm màu đen và 02 điện thoại di động cùng hiệu Nokia màu đen loại nút bấm (đã qua sử dụng, đã niêm phong có chữ ký của Nguyễn M T) thu giữ ở khu vực xung quanh chiếu bạc. Hết thời hạn 01 năm, kể từ ngày 04/12/2020 Cơ quan điều tra Công an huyện Lai Vung đã thông báo truy tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, nhưng vẫn chưa xác định được chủ sở hữu tài sản thì Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xử lý các tài sản này theo quy định của pháp luật.

- Trả lại cho bị cáo Trần Thanh S số tiền 10.000.000 đồng mà S đã nộp theo biên lai thu tiền số 017476, ngày 10/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung.

(Hiện vật chứng, tiền và tài sản trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đỗ Thanh H và bị cáo Trần Thanh S mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 15/10/2021. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính 15 ngày từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự: Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ