- Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN U DƯƠ G MINH CHÂU TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2021/HS-ST Ngày 10-9-2021 |
NHÂN DANH
ƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ G ĨA VI T NAM
A
D
U
DƯƠ G
C U,
TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bành Văn Hải
2. Ông Trần Hữu Thiện
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Mai - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Biết - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2021/TLST-HS ngày 29 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2021/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Võ M (tên gọi khác MR), sinh năm 1979 tại Tây Ninh; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: ấp A, xã T, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ N (đã chết) và bà Lê H; vợ N, sinh năm 1986; Con: 03 người lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án: Bản án số 113/HSPT ngày 21-7-2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt số tiền 7.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” chưa chấp hành nộp phạt nên chưa xóa án tích; Bản án số 145/2018/HSTSSST ngày 30-8-2018 của Tòa án nhân dân Huyện Củ Chi, áp dụng điểm c, Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 03-5-2020. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16-4-2021 đến ngày 21-4-2021, tạm giam từ ngày 22-4-2021 cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 16-4-2021, Lê L và Đinh V đến nhà gặp Võ M tại ấp A, xã T, Huyện D. Tại đây, L hỏi mua ma túy với số tiền 500.000 đồng, M đồng ý bán và lấy số tiền 500.000 đồng. Sau đó, M đến khu vực thuộc xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh gặp người thanh niên tên T mua ma túy với số tiền 500.000 đồng. Khi đó về đến nhà, M giao ma túy cho L và V. Lúc này, L và V đổ ma túy vào bộ dụng cụ rồi cùng sử dụng với M. Khoảng 10 phút sau, L tiếp tục hỏi M mua ma túy với số tiền 500.000 đồng, M đồng ý bán và M đến xã H, huyện G gặp T mua ma túy với số tiền 500.000 đồng. Khi về đến nhà, M giao ma túy cho L để tại nền nhà ngay chỗ cùng sử dụng ma túy. M cầm bịch ma túy của mình sử dụng trước đó đi vô phòng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng liên quan.
Ngoài ra, M đã bán trái phép chất ma túy cho Lê L và Đinh V 05 lần, mỗi lần số tiền 200.000 đồng đến 400.000 đồng. Trong đó, đã xác định vào khoảng 15 giờ ngày 11-4-2021, M đã bán cho L và V 02 bịch ma túy với số tiền 400.000 đồng tại nhà của M.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, Võ M đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
* Tại Kết luận giám định số 500/KL-KTHS ngày 20/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh xác định:
- Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín bốn đầu và 02 bịch nylon màu trắng hàn kín ba đầu, một đầu khóa bóp viền đỏ đến giám định gửi đến giám định là chất ma tuý; là loại Methamphetamine; khối lượng 0,6450 gam.
* Vật chứng đã thu giữ: 01 bìa thư đã niêm phong ghi số vụ 500/KL-KTHS (kí hiệu M) có chữ ký giám định viên Nguyễn T và trợ lý giám định Hoàng C, bên trong có 0,5503 gam là chất ma tuý, là loại Methamphetamine; 01 bộ dụng cụ sủ dụng chất ma túy; 02 cây kéo; 11 đoạn ống nhựa màu trắng, bên trong rỗng; 01 điện thoại di động OPPO, số Imei1: 866346034414573, Imei 2: 866346034414565, đã qua sử dụng; 45.000 đồng tiền Việt Nam; 01 nỏ bằng thủy tinh; 20 bịch nylon màu trắng, bịt kín ba đầu, một đầu khóa bóp, bên trong rỗng.
* Tại Bản Cáo trạng số 51/CT-VKS-DMC ngày 25 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố Võ M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Võ M thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và các tình tiết khác: Không có.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh trình bày tại phiên tòa:
- Giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Võ M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 08 - 10 năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Xử lý theo Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình.
NHẬ ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra là phù hợp với nhau và phù hợp với các biên bản hoạt động điều tra như biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản ghi nhận sự việc, kết luận của cơ quan giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào ngày 16-4-2021, Võ M đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với khối lượng 0,6450 gam thì bị bắt quả tang. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã bán ma túy cho L và V 05 lần, mỗi lần số tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng. Trong đó vào khoảng 10 giờ ngày 16-4-2021 M đã bán trái phép chất ma túy cho Lê L 02 lần ma túy với số tiền 1.000.000 đồng nên có đủ cơ sở xác định hành vi của Võ M thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết phạm tội 02 lần trở lên, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, năm 2004 bị cáo bị Tòa án nhân tỉnh Tây Ninh xử phạt số tiền 7.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” đến nay chưa thi hành án, tại phiên tòa bị cáo xác định do không có tiền nên không nộp phạt, do đó bị cáo chưa được xóa án tích. Đến ngày 20-8-2018 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo chưa được cóa án tích lại tiếp tục phạm tội là tái phạm nguy hiểm- là tình tiết định khung tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy và thực hiện hành vi với lỗi cố ý cụ thể là hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác, đây cũng là nguồn gốc phát sinh tệ nạn và các tội phạm khác trong xã hội. Do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.
[4].Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng: Không có.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Đây là các tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng: Theo quy định của pháp luật, căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bìa thư đã niêm phong ghi số vụ 500/KL-KTHS (kí hiệu M) có chữ ký giám định viên Nguyễn T và trợ lý giám định Hoàng C, bên trong có 0,5503 gam (sau giám định) là chất ma tuý, là loại Methamphetamine; 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy; 02 cây kéo; 11 đoạn ống nhựa màu trắng, bên trong rỗng; 01 nỏ bằng thủy tinh; 20 bịch nylon màu trắng, bịt kín ba đầu, một đầu khóa bóp, bên trong rỗng là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội.
Trả cho bị cáo 01 điện thoại di động OPPO, số Imei1: 866346034414573, Imei 2: 866346034414565, đã qua sử dụng không liên quan đến hành vi phạm tội.
Trả lại cho bị cáo tiền Việt Nam 45.000 (bốn mươi lăm nghìn) đồng.
Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 6 năm 2021.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾ ĐỊNH:
Căn cứ điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Võ M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Võ M 08 (tám) năm tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 4 năm 2021.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 bìa thư đã niêm phong ghi số vụ 500/KL-KTHS (kí hiệu M) có chữ ký giám định viên Nguyễn T và trợ lý giám định Hoàng C, bên trong có 0,5503 gam (sau giám định) là chất ma tuý, là loại Methamphetamine; 01 bộ dụng cụ sử dụng chất ma túy; 02 cây kéo; 11 đoạn ống nhựa màu trắng, bên trong rỗng; 01 nỏ bằng thủy tinh; 20 bịch nylon màu trắng, bịt kín ba đầu, một đầu khóa bóp, bên trong rỗng là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội.
Tuyên trả cho bị cáo 01 điện thoại di động OPPO, số Imei1: 866346034414573, Imei 2: 866346034414565, đã qua sử dụng và 45.000 (bốn mươi lăm nghìn) đồng tiền Việt Nam, Cơ quan Thi hành án tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 6 năm 2021.
3. Án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Võ M phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - Sở Tư pháp; - VKSND H.DMC; - CQĐT CA H.DMC; - Nhà tạm giữ CA H.DMC; - Chi cục THADS H.DMC; - PV06 – Công an tỉnh TN; - Vụ Giám đốc kiểm tra I; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘ ĐỒNG XÉT XỬ SƠ ẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Bích Thủy |