- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Bà K - ông T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đào Thị K. Bà Đào Thị K được ly hôn với ông Lê Quốc T.
- Căn cứ chính? Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 47/2019/HNGĐ-ST Ngày: 13/5/2019 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Trần Văn Tám.
+ Ông Huỳnh Ngọc Trứ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Phong Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang: Không tham gia.
Ngày 13 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2019/TLST-ST ngày 14 tháng 02 năm 2019 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Đào Thị K, sinh năm 1981 (có mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
Bị đơn: Lê Quốc T, sinh năm 1977 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 12 tháng 02 năm 2019 và quá trình tố tụng, nguyên đơn Đào Thị K trình bày:
Bà và ông Lê Quốc T kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre tại Giấy chứng nhận kết hôn số 78 ngày 01/12/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 10/2018, sau đó phát sinh mâu thuẫn do ông Lê Quốc T có quan hệ ngoại tình, bà nhiều lần khuyên ông Lê Quốc T từ bỏ để chăm lo hạnh phúc gia đình, nhưng Lê Quốc T không chấp nhận và bỏ nhà đi cách nay hơn 04 tháng. Do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể tiếp tục nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Lê Quốc T.
Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Lê Đào M, sinh ngày 18/02/2008. Bà Đào Thị K yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, ông Lê Quốc T không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
* Đối với bị đơn Lê Quốc T đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ nhưng không có ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Trong quá trình tố tụng, bà Đào Thị K cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ sau: Bản tự khai ngày 12/02/2019; bản sao Trích lục kết hôn; bản sao các Giấy khai sinh con chung; bản sao Giấy chứng minh nhân dân của Đào Thị K; bản sao Sổ HKTT của Đào Thị K; Đơn xin xác nhận nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng; Bản khai của con chung. Ông Lê Quốc T không có cung cấp tài liệu, chứng cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng: Bị đơn Lê Quốc T được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự.
Bị đơn Lê Quốc T đã được Toà án thông báo và tống đạt hợp lệ nhưng không có ý kiến phản đối về yêu cầu khởi kiện, tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp. Căn cứ Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử công nhận những tình tiết, sự kiện do nguyên đơn trình bày là sự thật.
. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị K và ông Lê Quốc T tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre, đăng ký số 78 ngày 01/12/2008. Quá trình sống chung, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến tháng 10/2018 phát sinh mâu thuẫn do ông Lê Quốc T có quan hệ ngoại tình, bỏ nhà đi nơi khác sinh sống. Xét thấy, hành vi của ông Lê Quốc T vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của người chồng làm cho hôn nhân giữa hai bên lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Do vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà Đào Thị K là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về quan hệ con chung: Bà Đào Thị K và ông Lê Quốc T có 01 con chung tên Lê Đào M, sinh ngày 18/02/2008. Xét thấy, từ lúc vợ chồng ly thân, con chung sống với bà Đào Thị K và được bà nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, Hội đồng xét xử giao cho bà Đào Thị K tiếp tục nuôi con chung sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 58, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, bà Đào Thị K và ông Lê Quốc T có quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định tại Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Đào Thị K yêu cầu không buộc ông Lê Quốc T cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu này là tự nguyện không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về quan hệ tài sản chung: Bà Đào Thị K không yêu cầu giải quyết về quan hệ tài sản chung. Căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.
. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, bà Đào Thị K phải chịu án phí sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu xin ly hôn là 300.000đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đào Thị K. Bà Đào Thị K được ly hôn với ông Lê Quốc T.
2. Về quan hệ con chung: Giao bà Đào Thị K trực tiếp nuôi 01 con chung tên Lê Đào M, sinh ngày 18/02/2008. Ông Lê Quốc T không phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Lê Quốc T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở.
3. Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng: Bà Đào Thị K phải chịu toàn bộ. Chuyển 300.000đồng tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm mà bà K đã nộp (biên lai thu số 0002117 ngày 12/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang) thành án phí sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Đào Thị K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ông Lê Quốc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. * Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã Cai Lậy; - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy; - UBND xã P, huyện C, BT; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Lê Huy |