vanban.org

Bản án 46

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 23/10/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên b các bị cáo Trần Hoàng A, bị cáo Võ Hữu Nhật T, bị cáo Nguyễn Hữu T, bị cáo Trần T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Tuyên b bị cáo Võ Trung S phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng A 13 (mười ba) năm; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-12-2017. Xử phạt bị cáo Võ Hữu Nhật T từ 10 (mười) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-12-2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Hoàng A phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên b các bị cáo Trần Hoàng A, bị cáo Võ Hữu Nhật T, bị cáo Nguyễn Hữu T, bị cáo Trần T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Tuyên b bị cáo Võ Trung S phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  • Căn cứ chính? Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
T A ÁN NH N D N
T NH L M Đ NG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

n n s : 46/2018/HS-ST
Ng y: 23-10-2018

NHÂN DANH

NƢ C C NG H A X H CHỦ NGH A V T NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH L M Đ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Đồng

Thẩm phán:

Ông Huỳnh Văn Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Phƣơng Thảo

2. Ông Bon Yo Soan

3. Ông Chu Văn Khuông

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Lƣơng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Ng y 23 th ng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý s 40/2018/TLST-HS ngày 31-8-2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử s 180/2018/QĐXXST-HS ngày 09-10-2018 đ i với các bị cáo:

1. Trần Hoàng A (tên gọi khác Cu Lõ), sinh ngày 24-8-1994 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú s 26 Vạn Kiếp, phường 8, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Luyện (đã chết) và bà Phạm Thị Hằng, sinh năm 1972; bị c o chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 26-11-2011 bị Công an phường 8, th nh ph Đ Lạt ra Quyết định xử phạt vi phạm h nh chính bằng hình thức phạt tiền 750.000đ về h nh vi gây r i trật tự công cộng; ngày 10-6-2015 bị Ủy ban nhân dân phường 8, th nh ph Đ Lạt p dụng biện ph p gi o dục tại xã, phường theo quyết định s 79/QĐ-U về h nh vi sử dụng tr i phép chất ma túy.

Bị bắt tạm giam ngày 08-12-2017, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Người bào chữa: Luật sư Lê Cao T nh thuộc Văn phòng Luật sư

Tánh - Đo n Luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

2. Võ Hữu Nhật T (tên gọi khác Bin), sinh ngày 15-5-1994 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT: s 26/61 Đ o Duy Từ, phường 4, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: s 56C Tôn Thất Tùng, phường 8, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Võ Hữu Hùng và bà Nguyễn Thu Lan; bị c o chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08-12-2017, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Người bào chữa: Luật sư Nguyễn Thị Hạnh thuộc Văn phòng Luật sư Thành Phát - Đo n Luật sư tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

3. Nguyễn Hữu T (tên gọi khác Duy), sinh ngày 10-6-1996 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: s 209A/40 Mai Anh Đ o, phường 8, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: l m vườn; trình độ học vấn: lớp 6/12; dân tộc: Kinh, giới tính: nam; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu Tâm, sinh năm 1974 và b Nguyễn Thị Thanh Ánh, sinh năm 1976; bị c o chưa có vợ, con.

Tiền sự: không; tiền n: n n s 24/2015/HSST ngày 23-01-2015 bị Tòa n nhân dân th nh ph Đ Lạt xử phạt 06 tháng tù cho hưởng n treo về tội “Trộm cắp tài sản”; n n s 126/2015/HSST ngày 26-6-2015 bị Tòa án nhân dân th nh ph Đ Lạt xử phạt 18 th ng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 02 b n n buộc ph i chấp h nh hình phạt chung l 24 th ng tù, đã chấp xong hình phạt tù ngày 14-10-2016.

ị c o bị bắt giam ng y 05-02-2018 đến ngày 04-5-2018 được thay đổi biện ph p ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Có mặt.

4. Võ Trung S (tên gọi khác Gôn), sinh ngày 28-5-1995 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT: s 224 Phan Đình Phùng, phường 2, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: s 25C Vạn Kiếp, phường 8, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Cao Đài; qu c tịch: Việt Nam; con ông Võ Thiện Nhân, sinh năm 1972 và b Ho ng Thị Thọ, sinh năm 1972; bị c o chưa có vợ, con; tiền n, tiền sự: không.

Bị bắt giam ngày 22-11-2017 đến ngày 19-4-2018 được thay đổi biện ph p ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Có mặt.

5. Trần T (tên gọi khác Toàn Đen), sinh ngày 17-5-1991 tại tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: s 42 Tôn Thất Tùng, phường 8, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: l m vườn; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn gi o: Cao Đ i; qu c tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Thiện, sinh năm 1966 và b Nguyễn Thị Mùi, sinh năm 1966; vợ Trần Thị Thùy Trang, sinh năm 1991 và có 01 con sinh năm 2012;

Tiền n, tiền sự: không; nhân thân: tại n n s 152/2009/HSST ngày 18-11-2009 bị Tòa n nhân dân th nh ph Đ Lạt xử phạt 36 th ng tù cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”; ngày 08-4-2008 bị Công an th nh ph Đ Lạt phạt vi phạm h nh chính bằng hình thức phạt tiền 750.000đ về h nh vi “gây rối trật tự công cộng”.

Bị bắt tạm giam ngày 23-01-2018 đến ngày 19-4-2018 được thay đổi biện ph p ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. Có mặt.

- Bị hại:

1. Bà Trần Thị A, sinh năm 1962; nơi cư trú: lô A23 Đông Tĩnh, phường 8, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt;

2. Bà ạch Ngọc Quỳnh N, sinh năm 1986; nơi cư trú: lô 8 Lý Nam Đế, phường 8, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt;

3. Ông Hồ Tiến T, sinh năm 1958; nơi cư trú: lô C36 khu quy hoạch Nguyên Tử Lực, đường Trần Anh Tông, phường 8, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Phạm Thị Hằng, sinh năm 1971; nơi cư trú: 26 Vạn Kiếp, phường 8, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt;

2. Ông Đinh Th nh Châu, sinh năm 1985; nơi cư trú: 61/22 Nguyễn Hữu C nh, phường 8, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt;

3. Ông Vũ Lê Minh Tuấn, sinh năm 1996; nơi cư trú: 29A Cao Thắng, phường 7, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt;

4. Th i Thị Thanh Duyên, sinh năm 1995; nơi cư trú: 50 Vạn Kiếp, phường 8, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt;

5. Ông Võ Thanh Sang, sinh năm 1973; nơi cư trú: 233 Hai Trưng, phường 6, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt;

6. Ông Trần Ngọc Đ m, sinh năm 1986; nơi cư trú: 75 Phước Th nh, phường 7, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt;

7. Ông H Việt Dũng, sinh năm 1982; nơi cư trú: 6 Huỳnh Thúc Kh ng, phường 4, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt;

8. Đỗ Thị Tuyết Lan, sinh năm 1959; nơi cư trú: 178 Phù Đổng Thiên Vương, phường 8, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt;

9. Ông Đặng Hữu Quang, sinh năm 1973; nơi cư trú: 23 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 7, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt;

10. Ông Võ Thiện Nhân, sinh năm 1972; nơi cư trú: 25C Vạn Kiếp, phường 8, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt;

11. Nguyễn Thu Lan, sinh năm 1970; nơi cư trú: 02 Tôn Thất Tùng, phường 8, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:

Trong kho ng thời gian từ tháng 10-2017 đến ngày 18-11-2017, bị cáo Anh cùng các bị cáo Tài, bị c o Sơn, bị cáo Toàn, bị c o Tân đã thực hiện hành vi trộm cắp tài s n 06 lần, đ i với 03 nh dân trên địa b n phường 8, thành ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: vào đêm ng y 21-10-2017, bị cáo Anh đi bộ đến nhà chị Bạch Ngọc Quỳnh N (lô 8 Lý Nam Đế) thấy trong nh không có người, Anh vào trong nhà qua lỗ thông gió trộm cắp được 700.000đ tiền mặt; 500.000đ tiền bỏ trong heo đất; 02 thẻ ATM của ngân h ng Vietcombank, sau đó sử dụng thẻ rút được s tiền 7.500.000đ; 01 sợi dây chuyền vàng 18K trọng lượng 03 chỉ; 01 Laptop hiệu Dell (màu bạc 11,6 inches); 01 đ n Organ (hiệu Yamaha, m u đen); 01 máy sấy tóc hiệu philip; 01 máy ép tóc; 01 cân sức khỏe; 02 bịch sữa hiệu Vinamilk; 01 đồng hồ đeo tay nữ hiệu Piaget màu trắng; 01 đèn để bàn màu xanh trắng.

Sau khi trộm được tài s n trên, bị cáo Anh đã b n cho một s người không x c định được tên, địa chỉ trên địa bàn thành ph Đ Lạt lấy tiền tiêu xài cá nhân, riêng chiếc đồng hồ đeo tay bị cáo Anh tặng cho bạn gái chị Duyên. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chiếc đồng hồ Piaget; 01 chiếc đèn để bàn (bút lục 239).

Vụ thứ hai: bị c o Anh rủ bị cáo Tài, bị c o Sơn, bị cáo Toàn, bị cáo Tân cùng thực hiện 04 lần trộm cắp tài s n của ông Thành tại Lô C36 khu quy hoạch Nguyên Tử Lực, cụ thể từng lần như sau:

Lần 1: Kho ng đầu tháng 11-2017, bị cáo Anh chở bị c o Sơn bằng xe mô tô hiệu wave của bị cáo Anh (hiện Hoàng Anh đã bán xe này cho người không biết nên không nhớ được biển số) đến khu vực đồi 52, tại đây thấy nhà ông Thành khóa cửa không có người trông coi, các bị cáo về nhà bị c o Sơn lấy đục v búa đinh đến đục phá 02 ổ khóa và cạy cửa đi v o trong nh . Khi v o được bên trong, bị c o Anh dùng đèn pin rọi sáng thấy có nhiều tài s n cồng kềnh nên bàn với bị c o Sơn về nhà lấy ô tô qua chở tài s n thì bị c o Sơn đồng ý. Bị c o Sơn, bị cáo Anh về nhà bị c o Sơn lấy chiếc xe ô tô t i màu xanh, hiệu Vinazuki biển s 49X-7430 của ông Sang (là chú ruột của Sơn cho bị cáo Sơn mượn để chở hàng thuê), khi về tới nh của bị cáo Sơn, bị cáo Anh gặp bị cáo To n nên đã rủ v bị cáo To n đồng ý cùng đi trộm cắp t i s n. Sau đó, c c bị cáo sử dụng xe ôtô quay lại nh ông Th nh trộm 01 tivi Panasonic 42 inches, m u đen; 01 chiếc âm ly hiệu Janguae; 01 đầu đĩa, hiệu California, m u v ng đồng; 01 đầu lọc, m u bạc, hiệu Shwa; 02 chiếc loa cây; 01 chiếc loa Sub, m u đen, hiệu Yamaha; 01 bức tượng gỗ hình ông Di Lặc; 01 bức tượng gỗ hình cô g i, rồi bỏ to n bộ lên xe ôtô chở về nh bị cáo Sơn. Sau đó, bị cáo Anh, bị cáo Sơn chở 02 bức tượng gỗ đến qu n Karaoke Lâm Tứ H i tại s 17/5 đường Kim Đồng, phường 6, th nh ph Đ Lạt b n cho ông Châu được s tiền 2.000.000đ. Đến s ng hôm sau, bị cáo Anh, bị cáo Sơn mang tivi, âm ly, đầu lọc, loa cây, loa sub b n cho ông Đ m, trú tại 75 Phước Th nh, phường 7, th nh ph Đ Lạt được s tiền l 4.500.000đ. Sau đó bị cáo Sơn, bị cáo Toàn cùng nhau mua ma túy đ sử dụng chung hết 500.000đ, chia cho To n 300.000đ, tr tiền xăng xe cho bị cáo Sơn 1.000.000đ, còn lại 4.700.000đ, bị cáo Anh, bị cáo Sơn chia đôi s tiền n y. Qu trình điều tra, ông Châu đã tự nguyện giao nộp 02 bức tượng gỗ cho Cơ quan điều tra; ông Đạm giao nộp đầu lọc, đầu đĩa v loa sub; ti vi, âm ly, loa đã b n cho một người dân tộc (không biết họ tên, địa chỉ), (các bút lục 237 đến 240; 282; 314; 322 đến 323).

Lần 2: v o buổi t i cùng ng y sau khi b n s t i s n trộm cắp lần 01, bị c o Anh tiếp tục rủ bị c o Sơn, bị c o Tân tiếp tục sử dụng xe ô tô t i 49X-7430 đến nhà ông Thành, bị c o Anh dùng đèn trong điện thoại soi đi lên lầu lấy 01 bộ dụng cụ đ nh golf, 01m y giặt hiệu Panasonic, còn bị c o Tân lấy 01 giấy đăng ký xe m y Dream biển s 59H1- 069.88 trên bàn thờ đưa cho bị c o Anh, bị c o Anh xu ng bếp lấy chiết xe Dream biển s 59H1-069.88 ra ngo i. Sau đó các bị cáo không lấy máy giặt chỉ lấy bộ dụng cụ đ nh golf lên xe ô tô, bị c o Sơn điều khiển xe ôtô chở về nhà bị c o Sơn cất giữ, còn bị c o Anh một mình chạy xe Dream về nhà bị c o Sơn. Khi về đến nhà, bị c o Sơn, bị c o Tân mang xe Dream đến tiệm cầm đồ Th nh Đạt cầm cho ông Quang, trú tại s 23 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 7, thành ph Đ Lạt lấy s tiền 5.000.000đ, còn bộ dụng cụ đ nh golf bị c o Anh đăng lên trang Raovatdalat b n được s tiền 3.000.000đ cho ông Dũng, trú tại s 6 đường Huỳnh Thúc Kh ng, phường 4, thành ph Đ Lạt.

Qu trình điều tra, ông Dũng đã nộp lại bộ dụng cụ đ nh golf cho Cơ quan điều tra. Đ i với chiếc xe Dream, bà Lan, trú tại s 178 Phù Đổng Thiên Vương, phường 8, Đ Lạt đã mua lại từ ông Quang với s tiền 5.300.000đ v tr thêm cho bị c o Sơn s tiền 1.000.000đ để mua lại chiếc xe Dream. Khi biết được tài s n mà mình mua là tài s n do người khác trộm cắp m có, b Lan đã cùng với ông Quang đến Cơ quan Công an điều tra giao nộp tài s n đã mua.

Tổng cộng s tài s n trộm cắp b n được l 8.000.000đ, bị c o Sơn, bị cáo Tân mua ma túy đ hết 500.000đ để sử dụng chung, còn lại 7.500.000đ chia ba. Riêng bị c o Sơn còn được b Lan đưa thêm 1.000.000đ, ông Quang 300.000đ

Lần 3: buổi t i cùng ng y sau khi b n t i s n trộm cắp tại lần 02, bị cáo Anh tiếp tục rủ bị cáo Sơn, bị cáo Tài đến nh ông Th nh để trộm cắp tài s n, nhưng Sơn nói bận việc không đi m nói bị cáo Anh, bị cáo Tài cứ đi trộm cắp, còn Sơn sẽ mang tài s n đi cầm c . Do vậy bị cáo Anh, bị cáo Tài tiếp tục đến nhà ông Thành lấy trộm 01 xe máy Sirius biển s 49P1- 0749, còn T i đứng ngo i để c nh giới. Sau đó đem xe cho bị c o Sơn cầm c cho ông Tuấn ở quán Karaoke Lâm Tứ H i ở s 17/5 đường Kim Đồng được 2.300.000đ, bị c o Sơn, bị c o T i mua ma túy đ sử dụng chung hết 600.000đ, s tiền còn lại chia đều cho c ba (các bút lục 318-319; 328 đến 331).

Lần 4: Sau khi trộm cắp t i s n lần 03, bị c o Anh, bị c o T i, bị c o Sơn tiếp tục sử dụng xe ô tô t i 49X-7430 đến nh ông Thành trộm cắp tài s n, c 03 cùng nhau vào khiêng 01 tủ lạnh Panasonic, 01 máy giặt ra xe ô tô, còn bị c o Anh vào bếp lấy xe Honda 67 rồi cùng về nh Sơn. Sau đó bị c o Sơn mang tủ lạnh về nhà và nói với b là ông Võ Thiện Nhân đây l t i s n của bạn cần bán, nói ông Nhân cho bị c o Sơn mượn 2.500.000đ để tr tiền mua tủ lạnh, còn chiếc xe Honda 67 bị c o Sơn cất dấu trong vườn nhà mình khi bị c o Sơn bị bắt thì chiếc xe n y đã bị mất không thu hồi được, còn bị c o Anh lấy máy giặt mang về nhà cho mẹ là bà Phạm Thị Hằng sử dụng và nói với bà Hằng là máy giặt mình tự mua. Khi biết được tài s n mà mình sử dụng là tài s n do người khác trộm cắp mà có, bà Hằng v ông Nhân đã giao nộp tài s n trên cho đến Cơ quan Công an điều tra (các bút lục 318 -319; 328-331).

Vụ thứ ba: Kho ng 20 giờ 00 phút ngày 18-11-2017, bị c o Anh đi bộ một mình ngang qua nh b Trần Thị A tại địa chỉ s A23 Đông Tĩnh, thì thấy nh tắt điện, bị c o Anh đi vòng ra sau nh , leo qua tường ở góc tr i v o trong khuôn viên nh kiểm tra c c cửa quanh nh thì ph t hiện thấy cửa sổ sau nh không khóa nên mở cửa v o bên trong nh . Khi v o trong nh , bị c o Anh lục tìm t i s n ở từng phòng, khi lên phòng ngủ ở tầng 2, bị c o Anh ph t hiện có 01 két sắt, khiêng xu ng phòng kh ch tại tầng trệt rồi quay lên lại phòng ngủ lấy trộm 01 đôi gi y m u nâu đỏ hiệu Pedro; 80USD trong 01 bóp da nữ, 01 thắt lưng nam hiệu Giovani, khi thấy ở trong xe ôtô đang đậu trong sân nh b Anh có 01 o kho c da của nam giới, bị c o Anh mở cửa v lấy trộm rồi đem tất c t i s n trộm cắp được về nh cất giấu. ị c o Anh đến nh Sơn, tại đây bị c o Anh gặp ông Nhân (b bị c o Sơn) hỏi mượn đục v búa, ông Nhân cho bị c o Anh mượn nhưng không hỏi l mượn để l m gì. Sau khi ra khỏi nh , bị c o Anh gặp bị c o T i v nói cho bị c o T i biết ở nh b Anh hiện đang để két sắt có t i s n, chủ nh đi vắng, bị c o T i đồng ý v c hai quay lại nh b Anh. Tại đây bị c o T i dùng hộp quẹt v giữ két sắt, bị c o Anh dùng búa đục tung két sắt ra, T i lấy to n bộ t i s n trong két bỏ v o túi nilon, bị c o Anh lấy tiền mặt rồi c hai cùng nhau mang về phòng trọ của Th i Thị Thanh Duyên (bạn gái của Trần Hoàng A) ở đường Vạn Kiếp, phường 8, th nh ph Đ Lạt kiểm đếm s t i s n đã lấy được tại nh b Anh, qu trình kiểm đếm, bị c o Anh yêu cầu bạn g i ra khỏi phòng trọ, s t i s n bị c o Anh, bị c o T i đã lấy trộm được trong nh b Anh gồm:

- 120.000.000đ; 1.500 USD; 05 Euro;

- 8,5 lượng v ng SJC rồng v ng 9999, (trong đó có 8 miếng vàng loại 10 chỉ/miếng, 01 miếng vàng loại 05 chỉ/miếng); 01 miếng v ng SJC Rồng v ng 9999 loại 01chỉ/ miếng; 13 nhẫn v ng trơn loại v ng 24K, trọng lượng 01chỉ/nhẫn; 02 nhẫn lông đuôi voi bọc v ng, trong đó: 01 nhẫn loại v ng 16K, trọng lượng 03 phân 2,5 v 01 nhẫn loại v ng 10k trọng lượng 01 phân 5,4; 01 nhẫn v ng 18K trọng lượng 0,7 chỉ, có đính một hình hoa hồng bằng v ng; 01 bộ trang sức v ng Ý m u trắng v ng 18K, bao gồm: 01 lắc tay trọng lượng 02 chỉ; 01 dây chuyền trọng lượng 05 chỉ 90; 01 đôi bông tai kim cương có nữ trang v ng trắng; 03 sợi dây chuyền v ng m u v ng, trong đó: 02 sợi dây chuyền v ng 18K trọng lượng 07,5 chỉ/dây v 01 sợi dây chuyền v ng 16K trọng lượng 02 chỉ 15 phân; 01 lắc v ng 9999 loại 24k trọng lượng 05 chỉ; 05 đôi bông tai v ng 18K, tổng trọng lượng 1,6 chỉ; 04 lắc v ng 18K, trọng lượng 4,48 chỉ/chiếc, tổng trọng lượng 17,92 chỉ; 01 sợi dây chuyền v ng trắng 18K, có móc v 01 mặt dạng bông hoa 4 c nh, trọng lượng 03 chỉ 15 phân; 02 dây chuyền ngọc trai;

- 03 đồng hồ đeo tay (01 đồng hồ nữ hiệu Lechateau, 01 đồng hồ đeo tay dây da màu nâu; 01 đồng hồ hiệu Rado bằng kim loại màu vàng); 1 đôi bông tai gi ;

Sau khi kiểm tra xong, bị c o Anh chia cho bị c o T i 35.000.000; 200 USD; 03 nhẫn v ng 9999 trọng lượng 01 chỉ/chiếc; 01 sợi dây chuyền v ng 18K (loại trọng lượng 7,5 chỉ); 01 sợi dây chuyền v ng trắng có mặt hình bông hoa m u trắng 4 c nh; 01 đôi bông tai bằng v ng, có hột đ m u của hột ngọc trai; 01 chiếc lắc v ng có hoa văn hình tròn; 01 lắc v ng trắng có c c hột đ nhỏ bao quanh; 02 lượng v ng SJC 9999 hình chữ nhật; 01 thẻ v ng SJC 9999 trọng lượng 01chỉ/chiếc; 01 đồng hồ Rado nữ m u v ng đen đã qua sử dụng.

S t i s n còn lại, bị c o Anh cho bị c o Sơn 5.000.000đ; tr nợ ông Võ Thiện Nhân 6.000.000đ v 80USD; nhờ chị Th i Thị Thanh Duyên mua giúp một điện thoại di động v 01 sim điện thoại hết 7.000.000đ, cho Duyên 3.000.000đ; cho bị c o To n s tiền 5.000.000 đồng; b Phạm Thị Hằng (mẹ bị cáo Anh) 1.000.000đ; tr nợ cho ông Trần Anh Tuấn 1.000.000đ, 100USD v 02 chiếc nhẫn v ng 24k (01chỉ/01chiếc), s tiền còn lại bị c o Anh tiêu x i c nhân (các bút lục 176; 178; 185; 319; 471).

Qu trình điều tra, chỉ có bị c o Sơn thừa nhận biết rõ tiền do bị c o Anh trộm cắp m có, còn những người kh c đều khai nhận không biết được t i s n m Anh đã tr nợ v cho mình l do trộm cắp m có (bút lục 470 -471).

Ngo i những lần trộm cắp t i s n nêu trên, bị c o Anh còn khai nhận trước đó có trộm cắp t i s n tại 01 nh trọ trên địa b n phường 8, th nh ph Đ Lạt, tỉnh Lâm Đồng, nhưng bị can không nhớ được địa điểm đã trộm cắp trên nên không có cơ sở để xử lý đ i với bị can về lần trộm cắp n y.

S tài s n mà các bị can đã trộm cắp của các bị hại trên, Hội đồng định giá trong t tụng hình sự, kết luận như sau:

1. Tài s n của chị Bạch Ngọc Quỳnh N được x c định tại Biên b n định giá tài s n và tr lời tại Văn b n s 373,1333/TCKH ngày 17/01/2018 và ngày 01/02/2018, ngày 02/7/2018 của Hội đồng định giá tài s n trong t tụng hình sự thành ph Đ Lạt x c định gồm:

- 01 sợi dây chuyền vàng 18K trọng lượng 03 chỉ trị giá 7.050.000đ; 01 Laptop hiệu Dell, màu bạc,11,6 inches 10.200.000đ; 01 đ n Organ, hiệu Yamaha, m u đen trị gi 1.125.000đ; 01 m y sấy tóc hiệu Philip trị giá 225.000đ; 01 m y ép tóc, trị gi 180.000đ; 01 cân sức khỏe, không đủ cơ sở xác định giá; 02 bịch sữa Vinamilk trị gi 14.000đ; 01 đồng hồ đeo tay nữ hiệu Piaget, màu trắng bạc trị gi 150.000đ; 01 đèn để bàn màu xanh trắng trị giá 70.000đ. Tổng cộng tài s n bị c o Anh đã trộm cắp của chị Bạch Ngọc Quỳnh N l 27.714.000đ;

2. T i s n của ông Hồ Tiến T được x c định tại biên b n định gi t i s n ngày 21/11/2017 và ngày 17/01/2018 của Hội đồng định giá trong t tụng hình sự thành ph Đ Lạt x c định gồm:

2.1. T i s n do c c bị cáo Anh, bị cáo Sơn, bị cáo Toàn trộm: 01 tivi Panasonic 42 inches, hết khấu hao trị gi bằng 0đ; 01 chiếc âm ly hiệu Janguae, trị gi 908.460đ; 01 đầu đĩa, hiệu California trị gi 500.000đ; 01 đầu lọc, m u bạc, hiệu Shwa trị gi 20.000đ; 02 chiếc loa cây trị gi 865.000đ; 01chiếc loa Sub, m u đen, hiệu Yamaha trị gi 400.000đ; 01 bức tượng gỗ hình ông Di Lặc trị gi 5.000.000đ; 01 bức tượng gỗ hình cô g i trị gi 3.000.000đ. Tổng trị gi t i s n trộm cắp l 10.693.660đ (bút lục 24 -25);

2.2. T i s n do c c bị cáo Anh, bị cáo Sơn bị cáo Tân trộm: 01 bao đựng dụng cụ đ nh Golf v 14 gậy đ nh Golf c c loại trị gi 5.300.000đ; 01 xe m y Dream, màu nâu, biển s 59H1-069.88 trị gi 10.140.000đ. Tổng trị gi t i s n trộm cắp 15.440.000đ (bút lục 24 -25);

2.3. Tài s n do bị cáo Anh, bị cáo Tài trộm: xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius l 7.400.000đ; bị cáo Sơn tiêu thụ (bút lục 19);

2.4. Tài s n do bị cáo Anh, bị cáo Sơn, bị cáo Tài trộm: 01 máy giặt hiệu Panasonic loại 07kg trị gi 2.365.000đ; 01 tủ lạnh Panasonic trị gi 3.591.000đ; xe Honda 67, m u đen đã hết khấu hao sử dụng giá trị bằng 0đ đồng). Tổng giá t i s n trộm cắp 5.956.000đ (bút lục 19);

3. Tài s n của bà Trần Thị A được x c định tại iên b n định gi t i s n tại Công văn s 373 ng y 01/2/2018; biên b n định gi t i s n trong t tụng hình sự ng y 08/2/2018; s 1332/TCKH ng y 02/7/2018 của Hội đồng ĐG-TSTTT hình sự th nh ph Đ Lạt v tại Thông b o s 331 ng y 28/5/2018 của Hội đồng ĐG-TSTTT hình sự tỉnh Lâm Đồng, gồm:

- 1.580 USD tương đương 35.826.500đ; 8,5 lượng vàng SJC rồng vàng 9999 trị gi 301.530.000đ; 01 miếng vàng SJC rồng vàng trọng lượng 01chỉ/01miếng 9999 trị giá 3.522.000đ; 05 Euro tương đương 133.000đ; 13 nhẫn v ng trơn loại vàng 24K, trọng lượng 01 chỉ/nhẫn trị gi 45.318.000đ; 02 nhẫn lông đuôi voi, trong đó: 01 nhẫn vàng loại 16K, trọng lượng 3 phân 2,5 trị gi 8.037.000đ; 01 nhẫn vàng 10k trọng lượng 01 phân 5,4 trị gi 762.480đ; 01 nhẫn vàng 18K có hình hoa hồng m u v ng đính trên, trọng lượng 0,7 chỉ có đính một hình hoa hồng bằng vàng trị gi 1.799.000đ; 01 bộ trang sức vàng Ý màu trắng loại vàng 18K, bao gồm: 01 lắc tay trọng lượng 02 chỉ trị giá 5.139.000đ; 01 dây chuyền trọng lượng 05 chỉ 90 trị gi 15.083.350đ; 01 đôi bông tai có đính kim cương trị gi 67.059.000đ; 03 sợi dây chuyền vàng, trong đó: 02 sợi dây chuyền vàng loại 18K trọng lượng 7,5 chỉ/dây trị giá 38.540.000đ; 01 sợi dây chuyền vàng loại 16K trọng lượng 02 chỉ 15 phân trị gi 5.316.950đ; 01 lắc vàng 9999 loại vàng 24k trọng lượng 05 chỉ trị giá 17.432.000đ; 05 đôi bông tai loại vàng 18K, tổng trọng lượng 04 chỉ trị giá 10.277.000đ; 04 lắc tay loại vàng 18K, trọng lượng 04,48 chỉ/chiếc, tổng trọng lượng 17,92 chỉ trị gi 46.042.000đ; 01 sợi dây chuyền vàng trắng 18K, có 01 móc kim loại vàng trắng và 01 mặt bằng kim loại dạng bông hoa 4 cánh, trọng lượng 03 chỉ 15 phân trị gi 8.052.975đ; 01 đồng hồ hiệu Silver màu vàng trị giá 300.000đ; 01 đồng hồ hiệu Rado kim loại màu vàng trị gi 200.000đ;

- 02 dây chuyền ngọc trai; 01 đồng hồ đeo tay nữ hiệu Lechateau; 01 đôi giày bằng da màu nâu hiệu Pedro; 01 thắt lưng da màu nâu hiệu Giovani và 01 o da không đủ cơ sở để đưa ra b o gi ; đ i với 01 đôi bông tai gi , theo bị hại Trần Thị A thì không có giá trị;

Tổng giá trị tài s n bị cáo Anh trộm cắp nhà bà Trần Thị A là: 730.370.255đ; bị c o T i 728.556.255đ.

Về bồi thường: Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

1. Bà Bạch Ngọc Quỳnh N: Nhi đã nhận lại tài s n gồm 01 chiếc đồng hồ Piaget và 01 chiếc đèn để b n, đến nay bà không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đ i với Trần Hoàng A (bút lục 41).

2. Ông Hồ Tiến T: Đã nhận lại s tài s n thu hồi được v được ông Trần Văn Thiện là b của Trần T đã bồi thường cho ông Thành s tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) cho s tài s n không thu hồi được. Đến nay ông Thành không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đ i với các bị can (bút lục 39; 163).

3. Bà Trần Thị A: T i s n thu giữ trên người bị c o Anh, bị c o T i gồm: 01 sợi dây chuyền v ng 18k, trọng lượng 03 chỉ 15, có hột m u tròn kết với nhau có gắn móc kim loại m u trắng; 01 dây chuyền v ng 18k, trọng lượng 03 chỉ 15 có gắn móc kim loại m u trắng v mặt dây kim loại m u trắng dạng bộ hoa b n c nh; 02 chiếc bông tai có hạt m u trắng, chuôi bằng kim loại m u trắng có trọng lượng 01 phân 6; 01 sợi dây chuyền v ng 16k, trọng lượng 02 chỉ 15 có gắn móc bằng v ng; 01 nhẫn v ng 16k, có sợi m u đen bên trong, đường kính kho ng 02cm, trọng lượng 03 phân 25; 01 nhẫn v ng 10k có sợi m u đen bên trong, đường kính kho ng 1,5cm trọng lượng 01 phân 5,4 nhẫn bằng kim loại m u v ng, có sợi nhựa m u đen luồn qua; 02 miếng v ng “SJC RỒNG VÀNG 9999” trọng lượng 02 lượng được bọc nhựa bên ngo i; 01 đồng hồ bằng kim loại, m u v ng, mặt tròn hiệu Silver Star; 01 đồng hồ hiệu Rado; 01 đôi bông tai bằng kim loại m u trắng, có đính đ v s tiền 6.500.000đ (s u triệu năm trăm nghìn đồng); 02 nhẫn v ng h m lượng 99% (trọng lượng 01chỉ/chiếc); 100USD (một trăm đô la Mỹ). To n bộ t i s n n y trị gi 193.359.505đ (làm tròn s 193.360.000đ), Cơ quan điều tra đã tr lại cho b Trần Thị A.

Đ i với s t i s n không thu hồi được. Đến nay gia đình bị c o T i đã bồi thường cho b Trần Thị A s tiền 50.000.000đ, s t i còn lại chưa được bồi thường; b Anh yêu cầu c c bị can tiếp tục bồi thường cho b , đ i với một s vật dụng, t i s n kh c bị hư hỏng, bà Trần Thị A không yêu cầu c c bị can ph i bồi thường (bút lục 40; 479).

Đ i với 01 nhẫn bằng kim loại m u v ng - đen, có hình rồng; 01 điện thoại Samsung Galaxy J7; Chiếc Honda Airblade biển s : 79N1 – 66.880 và 01 điện thoại di động Sam sung hiệu J3 Pro đây l t i s n bị c o Anh, bị c o T i mua từ tiền trộm cắp t i s n của b Trần Thị A cần tiếp tục tạm giữ để đ m b o thi hành án.

Những người đã mua t i s n của trộm cắp của các bị c o có yêu cầu như sau: Ông Hà Việt Dũng yêu cầu tr lại s tiền 3.000.000đ; ông Đinh Th nh Châu yêu cầu tr lại 2.000.000đ.

Các ông Trần Ngọc Đ m, b Trần Thị Tuyết Lan, Phạm Thị Hằng, Vũ Lê Minh Tuấn và ông Võ Thiện Nhân không có yêu cầu bồi thường đ i với các bị can.

Vật chứng ngo i đồ vật, t i liệu nêu trên, qu trình điều tra, Cơ quan điều tra còn thu giữ:

+ Thu giữ của bị c o Sơn: 01 bóp da m u xanh đen; 01 CMND; 01 bằng l i xe; 01 thẻ ATM Ngân h ng SH ank, 01 thẻ ngân h ng Đông Á đứng tên Võ Trung S. Do không liên quan đên h nh vi phạm tội của bị can, nên Cơ quan điều tra đã tr lại cho bị c o Sơn (bút lục 481).

- 01 miếng kim loại hình tròn; 01 sợi dây chuyền m u bạc kho ng 45cm do Th i Thị Thanh Duyên tự nguyện giao nộp. Qu trình điều tra Duyên khai b o được bị c o Anh cho, không liên quan đến vụ n; 01 Giấy b o đ m của công ty Danh Hiển v 02 Giấy kiểm định chất lượng đ i với đôi bông tai kim cương bị mất do b Nguyễn Trần Phương Ly con của bị hại Trần Thị A tự nguyện giao nộp để phục vụ công t c gi m định. To n bộ những t i s n n y do không liên quan đến h nh vi phạm tội của c c bị can, do vậy Cơ quan điều tra đã tr lại cho c c đương sự, nên không đề cập đến.

Đ i với s tiền 1.100.000đ thu giữ của bị c o Sơn; b Phạm Thị Hằng đã nộp lại s tiền 1.000.000đ, đây l s tiền m bị c o Anh cho bị c o Sơn v b Hằng từ t i s n trộm cắp của b Trần Thị A; Nguyễn Hữu T nộp lại s tiền 2.000.000đ; 02 ổ khóa thu giữ tại nh ông Hồ Tiến T cần tiếp tục tạm giữ để đ m b o thi h nh n.

Đ i với chiếc xe mô tô của bị c o Anh đã sử dụng v o việc trộm cắp t i s n, do bị can đã b n chiếc xe n y cho người không biết tên, địa chỉ cùng một s công cụ m c c bị can đã sử dụng v o việc trộm cắp t i s n, do đến nay không thu hồi được nên không đề cập đến.

Đ i với 01 xe ô tô Vinaxuki biển s 49X-7430 của ông Võ Thanh Sang, xét thấy ông Sang không biết việc c c bị can đã sử dụng t i s n của mình v o việc trộm cắp t i s n nên đã tr lại cho ông Sang, do vậy không đề cập đến.

Đ i với hành vi của Trần T, Võ Thiện Nhân, Thái Thị Thanh Duyên, Phạm Thị Hằng, Hà Việt Dũng,Trần Ngọc Đ m, Hồ Thanh Sang, Đỗ Thị Tuyết Lan, Đinh Th nh Châu, Đặng Hữu Quang, Vũ Lê Minh Tuấn, Trần Anh Tuấn và ông Trần Trí. Do những đương sự này không biết tài s n mà các bị can bán và cho mình là do phạm tội m có, nên không đề cập đến trách nhiệm hình sự trong vụ án này.

Tại b n cáo trạng s 30/CT-VKS-P2 ngày 29-8-2018 của Viện kiểm s t nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy t bị c o Trần Hoàng A, Võ Hữu Nhật T về tội “Trộm cắp tài s n” theo quy định tại điểm a kho n 4 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999; ị cáo Nguyễn Hữu T về tội trộm cắp tài s n, theo quy định tại điểm c, kho n 2, Điều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Bị cáo Võ Trung S về tội trộm cắp tài s n và tiêu thụ tài s n theo quy định tại kho n 1, Điều, 138 và kho n 1, Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 1999; ị cáo Trần T về tội trộm cắp tài s n, theo quy định tại kho n 1, Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi chung Bộ luật hình sự năm 1999).

Tại phiên tòa sơ thẩm, Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên b n cáo trạng đã truy t ; đề nghị tuyên b các bị cáo Trần Hoàng A, Võ Hữu Nhật T, Nguyễn Hữu T, Trần T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; tuyên b bị cáo Võ Trung S phạm tội “Trộm cắp tài sản”; tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;

- Áp dụng điểm a kho n 4 Điều 138; điểm g kho n 1 Điều 48; điểm p kho n 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999; xử phạt bị cáo Trần Hoàng A từ 13 năm đến 14 năm tù;

- Áp dụng điểm a kho n 4 Điều 138; điểm g kho n 1 Điều 48; điểm b, p kho n 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Võ Hữu Nhật T từ 12 năm đến 13 năm tù;

- Áp dụng điểm c kho n 2 Điều 138 điểm b, p kho n 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 03 năm đến 04 năm tù;

- Áp dụng kho n 1 Điều 138; điểm p kho n 1, kho n 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Trần T từ 18 th ng đến 24 tháng tù;

- Áp dụng kho n 1 Điều 138; điểm g kho n 1 Điều 48; điểm p kho n 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Võ Trung S từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; từ 09 th ng tù đến 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 để tổng hợp hình phạt đ i với bị c o Sơn.

Về trách nhiệm dân sự: buộc các bị c o Anh v T i liên đới bồi thường cho bà Trần Thị A s tiền còn lại sau khi trừ đi trị giá tài s n b đã nhận lại được từ Cơ quan điều tra.

Buộc các bị cáo hoàn tr cho ông Đinh Th nh Châu s tiền 2.000.000đ do mua 02 tượng gỗ; buộc các bị cáo hoàn tr cho ông Hà Việt Dũng s tiền 3.000.000đ do mua dụng cụ đ nh golf.

Về vật chứng: đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Bị cáo Hoàng Anh, bị cáo Tài, bị c o Sơn, bị cáo Toàn, bị cáo Tân khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trộm cắp tài s n như b n cáo trạng quy kết; không bị cáo nào thắc mắc khiếu nại b n Cáo trạng v cùng đề nghị Tòa xem xét gi m nhẹ một phần hình phạt.

Luật sư T nh b o chữa cho bị cáo Hoàng Anh th ng nhất tội danh cáo trạng truy t , đề nghị không áp dụng điểm g kho n 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự vì bị c o đã bị truy t theo kho n 4 Điều 138 Bộ luật Hình sự như Đại diện Viện kiểm s t đề nghị. Tuy nhiên với mức hình phạt đại diện Viện kiểm s t đề nghị là quá nghiêm khắc, đề nghị Tòa án xem xét áp dụng hình phạt thấp nhất.

Luật sư Hạnh bào chữa cho bị cáo Tài th ng nhất tội danh cáo trạng truy t , bị c o được áp dụng 2 tình tiết gi m nhẹ theo điểm b, s kho n 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị áp dụng Điều 54, cần áp dụng c c Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt mức thập nhất khung hình phạt.

Bị hại b Nhi, ông Th nh đã nhận một s tài s n, còn các tài s n khác không thu hồi được nhưng cùng không yêu cầu các bị cáo bồi thường; đề nghị Tòa án xem xét gi m nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Bị hại bà Anh xác nhận đã nhận s tài s n các bị cáo Hoàng Anh, bị cáo Tài trộm cắp trị gi 193.395.505đ (làm tròn số 193.396.000đ); b mẹ bị cáo Tài đã bồi thường s tiền 167.000.000đ. Như vậy, tổng giá trị tài s n các bị cáo trộm cắp l 730.370.255đ (làm tròn số 730.370.000đ); còn lại s tiền 369.974.000đ (730.370.000đ – (193.396.000đ + 167.000.000) yêu cầu các bị cáo bồi thường. Tuy nhiên, nếu bị cáo Tài ph i liên đới bồi thường thì không yêu cầu bị cáo Tài buồi thường, yêu cầu bị cáo Hoàng Anh bồi thường s tiền ½ của s tiền 369.974.000đ. Ngo i ra, b Anh đề nghị Tòa xem xét gi m nhẹ cho bị cáo Tài.

Người liên quan ông Vũ Lê Minh Tuấn, ông Võ Thanh Sang, ông Hà Việt Dũng, ông Đặng Hữu Quang vắt mặt tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ n đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong kho ng thời gian từ tháng 10-2017 đến ngày 18-11-2017, bị cáo Anh cùng các bị cáo Tài, bị c o Sơn, bị cáo Toàn, bị c o Tân đã thực hiện hành vi trộm cắp tài s n, trong đó:

- Bị cáo Anh thực hiện hành vi trộm cắp tài s n của bị hại bà Nhi trị giá 27.714.000đ; bị cáo Anh cùng các bị c o Sơn, bị cáo Toàn thực hiện hành vi trộm cắp tài s n của bị hại ông Thành trị gi 10.694.000đ; bị cáo Anh cùng các bị c o Sơn, bị cáo Tân thực hiện hành vi trộm cắp tài s n của bị hại ông Thành trị gi 15.440.000đ; bị cáo Anh cùng các bị c o Sơn, bị cáo Tài thực hiện hành vi trộm cắp tài s n của bị hại ông Thành 02 lần trị giá 13.356.000đ; bị cáo Anh cùng bị cáo Tài thực hiện hành vi trộm cắp tài s n của bị hại bà Anh trị giá 730.370.000đ. Như vậy, bị cáo Anh thực hiện hành vi trộm 06 lần, giá trị tài s n trộm 797.574.000đ; bị c o Sơn thực hiện hành vi trộm 03 lần, giá trị tài s n trộm 39.490.000đ; bị cáo Tài thực hiện hành vi trộm 03 lần, giá trị tài s n trộm 741.912.000đ; bị cáo Toàn thực hiện hành vi trộm 01 lần, giá trị tài s n trộm 10.694.000đ; bị cáo Tân thực hiện hành vi trộm 01 lần, giá trị tài s n trộm 15.440.000đ; Ngo i ra, bị c o Sơn biết rõ s tiền 5.000.000đ do bị c o Anh trộm cắp nhưng bị c o Anh cho thì bị c o Sơn nhận. Đ i chiếu lời khai nhận của các bị cáo, lời khai các bị hại, người có quyền lợi liên quan, vật chứng thu giữ, kết luận định giá trong t tụng hình sự; có đủ căn cứ x c định các bị cáo Anh, bị cáo Tài, bị c o Sơn, bị cáo Toàn, bị cáo Tân, phạm tội “Trộm cắp tài sản”; trong đó bị cáo Anh, bị cáo Tài phạm tội thuộc tình tiết định khung điểm a kho n 4 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999; bị cáo Tân có 02 tiền án về tội trộm cắp chưa xóa án tích, nên thuộc tình tiết định khung điểm c kho n 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999; các bị c o Sơn, bị cáo Toàn theo kho n 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999. Ngo i ra, bị c o Sơn còn phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định kho n 1 Điều 250 của Bộ luật hình sự năm 1999.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trong đó bị cáo Anh, bị cáo Tài phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng; bị cáo Tân phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng; các bị cáo Toàn phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị c o Sơn phạm 02 tội. Hành vi của các bị c o đã xâm hại đến tài s n hợp pháp của cá nhân được pháp luật b o vệ; gây nh hưởng trật tự trị an của địa phương.

Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện đồng phạm, các bị cáo Anh, bị cáo Sơn, bị cáo Tài phạm tội nhiều lần, nên cần áp dụng điểm g kho n 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 để tăng nặng trách nhiệm hình sự đ i với các bị cáo. Bên cạnh đó, đ nh gi vai trò của bị cáo Anh l người chủ mưu, đồng thời cùng thực hành với c c đồng phạm khác. Do vậy, cần quyết định hình phạt đ i với bị cáo cao nhất.

Bị cáo Tài l đồng phạm tham gia tích cực tuy tham gia trộm cắp 03 lần nhưng gi trị tài s n đặc biệt lớn, nên cần áp dụng Điều 17, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định mức hình phạt thấp hơn bị cáo Anh.

Đ i với bị cáo Tân tham gia vai trò đồng phạm, bị c o đã bị hai lần kết án về cùng tội trộm cắp nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt, bị cáo lại tiến tục thực hiện hành vi trộm cắp, tuy bị cáo tham gia trộm 01 lần nhưng thuộc trường hợp tình tiết định khung, nên nên cần áp dụng Điều 17, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt thấp hơn bị cáo Tài.

Đ i với bị cáo Sơn tham gia vai trò đồng phạm, tham gia 03 lần trộm cắp trị gi 39.490.000đ, trong khi đó bị cáo còn phạm tội tiêu thụ tài s n do người khác (bị cáo Anh) phạm tội mà có; nên cần áp dụng Điều 17, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định mức hình phạt của tội trộm cắp tài s n; quyết định hình phạt của tội tiêu thụ sau đó tổng hợp chung theo quy định.

Đ i với bị cáo Toàn l đồng phạm tham gia 01 lần, cần áp dụng Điều 17, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 để quyết định mức hình phạt.

Tuy nhiên, khi quyết định mức hình phạt, các bị cáo Anh, bị c o Sơn, bị cáo Toàn, bị cáo Tài, bị c o Tân đều thành khẩn khai b o, nên được áp dụng tình tiết gi m nhẹ quy định điểm s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; các bị cáo Anh, bị c o Sơn, bị cáo Tài khai báo các lần trộm cắp, nên được áp dụng tình tiết gi m nhẹ quy định điểm r kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; bị cáo Toàn phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được áp dụng tình tiết gi m nhẹ quy định điểm i kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. ị c o T i t c động gia đình bồi thường cho bị hại bà Anh s tiền 167.000.000đ, nên được áp dụng tình tiết gi m nhẹ quy định điểm b kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; Ngo i ra, bị hại bà Nhi, ông Th nh đều đề nghị gi m nhẹ hình phạt cho các bị cáo Anh, bị c o Sơn, bị cáo Toàn, bị cáo Tài, bị cáo Tân; bị hại b Anh đề nghị gi m nhẹ hình phạt cho bị c o T i, nên được áp dụng kho n 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do bị c o T i được hưởng 03 tình tiết gi m nhẹ quy định kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; 01 tình tiết gi m nhẹ quy định kho n 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015; bị c o được áp dụng Điều 17, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015, trong khi đó bị cáo bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng, nên áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại b Nhi, ông Th nh đã nhận một s tài s n, còn các tài s n khác không thu hồi được nhưng cùng tự nguyện không yêu cầu các bị cáo bồi thường, nên không buộc các bị cáo bồi thường.

- Bị hại bà Anh yêu cầu bị cáo Hoàng Anh bồi thường s tiền 369.974.000đ. Tuy nhiên bị cáo Hoàng Anh, bị cáo Tài cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài s n của bà Anh, theo quy định Điều 587 của Bộ luật dân sự, bị cáo Hoàng Anh, bị cáo Tài ph i chịu trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại bà Anh. Tại phiên tòa, bị hại b Anh x c định “nếu bị cáo Tài phải bồi thường thì chỉ yêu cầu bị cáo Anh bồi thường ½ của số tiền 369.974.000đ” tương ứng 184.987.000đ. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của bị hại bà Anh, buộc bị cáo Hoàng Anh bồi thường cho bị hại bà Anh s tiền 184.987.000đ.

Đ i với người liên quan ông Đinh Th nh Châu tuy vắng mặt nhưng hồ sơ thể hiện ông Châu mua 02 tượng gỗ trị gi 2.000.000đ do c c bị cáo Anh, bị cáo Sơn, bị cáo Toàn trộm của ông Th nh, sau đó ông Châu giao nộp 02 tượng gỗ để tr cho bị hại ông Thành; nay yêu cầu hoàn tr s tiền này. Do vậy cần buộc các bị cáo Anh, bị c o Sơn, bị cáo Toàn có trách nhiệm liên đới hoàn tr cho ông Châu s tiền 2.000.000đ, theo phần mỗi bị c o 666.666,66đ (làm tròn số 666.667đ).

Đ i với người liên quan ông Hà Việt Dũng tuy vắng mặt nhưng hồ sơ thể hiện ông Dũng mua bộ golf trị gi 3.000.000đ do c c bị cáo Anh, bị c o Sơn, bị cáo Tân trộm của ông Th nh, sau đó ông Dũng giao nộp bộ golf để tr cho bị hại ông Thành; nay yêu cầu hoàn tr s tiền này. Do vậy cần buộc các bị cáo Anh, bị c o Sơn, bị cáo Tân có trách nhiệm liên đới hoàn tr cho ông Dũng s tiền 3.000.000đ, theo phần mỗi bị c o 1.000.000đ.

Về vật chứng: Qu trình điều tra, đã thu giữ một s vật chứng, sau đó Cơ quan điều tra xử lý một s t i s n tr cho bị hại. Hiện c c vật chứng chưa xử lý gồm s tiền 1.100.000đ thu giữ của bị c o Sơn; s tiền 1.000.000đ b Phạm Thị Hằng (mẹ bị cáo Anh) đã nộp lại được x c định bị c o Anh trộm của bị hại b Anh, sau đó cho bị c o Sơn, bị c o Anh cho b Hằng; ị c o Tân nộp lại s tiền 2.000.000đ; cần được tục tạm giữ để đ m b o thi h nh n. Đ i với 02 ổ khóa thu giữ tại nh ông Hồ Tiến T không còn gi trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo ph i chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật. Về án phí dân sự các bị cáo chịu trách nhiệm bồi thường ph i chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên b các bị cáo Trần Hoàng A, bị cáo Võ Hữu Nhật T, bị cáo Nguyễn Hữu T, bị cáo Trần T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Tuyên b bị cáo Võ Trung S phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Áp dụng điểm a kho n 4 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm g kho n 1 Điều 52; c c điểm s, r kho n 1, kho n 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đ i với các bị cáo Trần Hoàng A, bị cáo Võ Hữu Nhật T. Bị cáo Tài được áp dụng thêm điểm b kho n 1 Điều 51; c c Điều 17, 58 v Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015.

- Xử phạt bị cáo Trần Hoàng A 13 (mười ba) năm; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-12-2017.

- Xử phạt bị cáo Võ Hữu Nhật T từ 10 (mười) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08-12-2017.

Áp dụng điểm c kho n 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999; các điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51; c c Điều 17, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đ i với bị cáo Nguyễn Hữu T.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi h nh n, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 05-02-2018 đến ngày 04-5-2018.

Áp dụng kho n 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999; c c điểm s, i kho n 1, kho n 2 Điều 51; các Điều 17, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đ i với bị cáo Trần T.

Xử phạt bị cáo Trần T 09 (chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình tù tính từ ngày bắt giam để thi h nh n, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 23-01-2018 đến ngày 19-04-2018.

Áp dụng kho n 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999; điểm s kho n 1, kho n 2 Điều 51; c c Điều 17, 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đ i với bị cáo Võ Trung S về tội “Trộm cắp tài sản”; kho n 1 Điều 250 của Bộ luật hình sự năm 1999, điểm s kho n 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đ i với bị cáo Sơn về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Xử phạt bị cáo Võ Trung S 24 (hai mươi b n) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 09 (chín) tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, tổng hợp chung buộc bị cáo Võ Trung S chấp hành hình phạt chung cho c hai tội là 33 (ba mươi ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án, được trừ thời gian tạm giam ngày từ ngày 22-11-2017 đến ngày 19-4-2018.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ c c Điều 584, 585, 587, 589 của Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Trần Hoàng A bồi thường cho bị hại bà Trần Thị A s tiền 184.987.000đ;

- Buộc các bị cáo Trần Hoàng A, bị cáo Võ Trung S, bị cáo Trần T có trách nhiệm liên đới hoàn tr cho ông Đinh Th nh Châu s tiền 2.000.000đ, theo phần mỗi bị c o 666.667đ;

- Buộc các bị cáo Trần Hoàng A, bị cáo Võ Trung S, bị cáo Nguyễn Hữu T có trách nhiệm liên đới hoàn tr cho ông Hà Việt Dũng s tiền 3.000.000đ, theo phần mỗi bị c o 1.000.000đ.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên phải thi hành án không trả số tiền nêu trên; còn phải trả số tiền lãi, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ kho n 1 Điều 46; điểm a, b kho n 1, kho n 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, b, c kho n 2; điểm a kho n 3 Điều 106 của Bộ luật t tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy 02 ổ khóa

- Tạm giữ s tiền 1.100.000đ thu giữ của bị cáo Võ Trung S; tạm giữ s tiền 1.000.000đ b Phạm Thị Hằng (mẹ bị cáo Anh) đã nộp; tạm giữ s tiền 2.000.000đ bị c o Nguyễn Hữu T nộp để b o đ m thi h nh án (theo biên lai thu tiền s AA/2012/0000300 ng y 31-8-2018 nộp tại Cục Thi h nh n dân sự tỉnh Lâm Đồng).

3. Về án phí: Áp dụng c c Điều 135; 136 Bộ luật t tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Qu c hội. Buộc mỗi bị cáo Trần Hoàng A, Võ Hữu Nhật T, Nguyễn Hữu T, Trần T; Võ Trung S ph i chịu 200.000đ n phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo Trần Hoàng A ph i chịu 9.332.000đ (186.653.000đ x 5%) án phí dân sự; bị cáo Võ Trung S ph i chịu 300.000đ n phí dân sự; bị cáo Trần T ph i chịu 300.000đ n phí dân sự; bị cáo Nguyễn Hữu T ph i chịu 300.000đ n phí dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, các bị hại v người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kh ng c o để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại thành ph Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm; riêng người liên quan vắng mặt (c c ông Vũ Lê Minh Tuấn, Võ Thanh Sang, Hà Việt Dũng, Đặng Hữu Quang), thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nhận được b n án hoặc b n án được niêm yết theo quy định pháp luật t tụng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ