vanban.org

Bản án 46/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 129, 130, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản…

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H, Phạm Văn V phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Bị cáo Nguyễn Văn K, Lê Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Hung và đồng bọn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ su…"
  • Tòa quyết gì? a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 129, 130, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản…
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA LỘC
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2025/HS - ST
Ngày: 03/06/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Khánh Thiện.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Khiêm.

Bà Nguyễn Thị Phương Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Mai - Thư ký Tòa án nhân huyện Gia

Lộc, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương

tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hiển và ông Nguyễn Trác Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc xét

xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2025/TLST - HS ngày 12/05/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 05 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn H, sinh năm 1989; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã N, huyện G,

tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn K - đã chết và bà Nguyễn Thị S – sinh năm 1948; Có vợ là Vũ Thị Nh – sinh năm 1994 và 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014; Nhân thân, tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 21/12/2021, Lê Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2022/HSST ngày 07/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, xử phạt Lê Văn H 17 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 21/4/2023, H chấp hành xong hình phạt tù. Chưa được xoá án tích; bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 25/12/2024, sau đó chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. (Có mặt tại phiên tòa).

2. Phạm Văn V, sinh năm 1997; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn A, xã Q, huyện

G, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Tr (đã chết) và bà Phạm Thị B – sinh năm 1965; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 25/12/2024, sau đó chuyển tạm giam tại Phân Trại tạm giam khu vực Tứ Kỳ, thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. (có mặt tại phiên tòa)

3. Nguyễn Văn K, sinh năm 1974; ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ1, xã Đ2,

huyện G, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ch ( đã chết) và bà Đặng Thị L (đã chết); Có vợ là Phùng Thị Q (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 1996 nhỏ sinh năm 2003. Tiền án, tiền sự: Chưa;

Nhân thân: Ngày 19/6/2017, Nguyễn Văn Kim bị Công an huyện Nam

Sách xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Quyết định số 251. Đã được xóa; bị bắt, tạm giữ từ ngày 16/12/2024 đến ngày 25/12/2024, sau đó chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. (có mặt tại phiên tòa)

* Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn V: Bà Nguyễn Thị Ư –Trung tâm

trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hải Dương. ( Có đơn xin xử vắng mặt).

* Người làm chứng: Anh Trần Văn Ph, bà Vũ Thị Th, ông Vũ Minh Y. ( Đều

vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Vụ án: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Nguyễn Văn K và Lê Văn H là anh em họ và cùng là người đã sử dụng

ma túy. Do trước đây, có một số lần Kim nhờ H mua hộ ma tuý loại Heroine để sử dụng nên tối ngày 15/12/2024, tại phòng 205 nhà nghỉ Chấn Phong, thuộc thôn Đ1, xã Đ2, huyện G, tỉnh Hải Dương, K sử dụng điện thoại gọi cho H bằng ứng dụng Facebook Messenger để nhờ H mua hộ ma tuý loại Heroine để sử dụng. H đồng ý. H nhờ Phạm Văn V điều khiển xe nhãn hiệu SUZUKI chở Hưng đến nhà nghỉ Chấn Phong. V không biết H đến đây để gặp ai, làm gì. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, tại tầng 1 nhà nghỉ Chấn Phong, K gặp H và đã đưa cho H 500.000 đồng để nhờ mua hộ 01 gói ma tuý với giá 200.000 đồng. Số tiền 300.000 đồng còn lại, K cho H. Lúc này, H mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu WISH, kiểu dáng Wave, màu xanh, biển số 34F9-8910 của K để đi mua ma tuý. H điều khiển xe đến khu vực phố Cao, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên, Hưng gặp và mua được của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói ma tuý loại Heroine với giá 200.000 đồng và 01 túi ma tuý đá với giá 300.000 đồng, rồi điều khiển xe quay về nhà nghỉ Chấn Phong. Tại đây, H đưa cho K 01 gói giấy thiếc bên trong có chứa ma tuý loại Heroine và nói: "Đây, 200" và trả xe cho K rồi đi về nhà tại thôn Đôn Thư, xã Đồng Quang, huyện Gia Lộc rồi sử dụng một mình hết số ma túy đá mua được. K cầm gói ma tuý mang lên phòng 205 nhà nghỉ Chấn Phong, bỏ gói giấy thiếc bạc, đổ hết ma túy ra 01 túi nilon của bao thuốc lá. Sau đó, K lại đổ một ít ma túy ra giấy thiếc bạc, dùng bật lửa hơ nóng, sử dụng bằng cách hút bằng miệng. Đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, Công an xã Đ2, huyện G kiểm tra phòng 205 nhà nghỉ Chấn Phong, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn K đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, thu giữ vật chứng gồm: Tại bàn uống nước phòng 205: 01 túi nilon nhỏ màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng; 01 mảnh giấy thiếc màu bạc, trên bề mặt có bám dính chất bột màu trắng (được niêm phong ký hiệu là A1) và 01 bật lửa gas màu đỏ nhãn hiệu Hoa Việt. K khai nhận chất bột màu trắng thu giữ trên đều là ma túy Heroine, K nhờ H mua vào tối ngày 15/12/2024 để sử dụng cho bản thân; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 5G, lắp sim số 0342150562 và 01 xe mô tô nhãn hiệu WISH, kiểu dáng Wave, màu xanh, biển số 34F9-8910 của Kim. Quá trình bắt quả tang có bà Vũ Thị Th, sinh năm 1968, trú tại: Thôn Đ3, xã Đ2 là người chứng kiến.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể xác định: Nguyễn Văn K

dương tính với ma túy OPI (Heroine).

Vụ án: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Lê Văn H và anh Vũ Minh Y, sinh năm 1968, trú tại thôn Đ1, xã Đ2,

huyện G có quan hệ họ hàng. H và Phạm Văn V là bạn bè quen biết xã hội. H, Y và V đều là người sử dụng ma túy loại Methamphetamine, còn gọi là ma túy đá. Trưa ngày 15/12/2024, H gọi điện thoại cho Y hỏi mượn xe mô tô, Y điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Jupiter, biển số 14K4-5636 đến đầu ngõ nhà H, đưa xe cho H mượn. H nói có việc cá nhân và hỏi vay Y số tiền 500.000 đồng. Y đồng ý và đưa cho H vay số tiền 500.000 đồng. Sau đó, H điều khiển xe chở Y về nhà Y rồi đi một mình đến khu vực phố Cao, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên để tìm mua ma túy đá. Tại đây, H mua được của 01 người đàn ông không quen biết 01 túi nilon bên trong có chứa ma túy đá với giá 500.000 đồng. H điều khiển xe mô tô về trả cho Y, rồi nhờ Y chở H về nhà. Khi về đến sân nhà H, H nảy sinh ý định rủ Y cùng sử dụng ma túy đá nên đã nói với Y: "Cháu vừa lấy hàng về, cậu có ôn lại một tý không?". Y hiểu ý là H rủ Y cùng sử dụng ma túy đá nên đồng ý. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, H và Y đi vào phòng ngủ của H. Tại đây, H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá có sẵn trong phòng gồm: 01 coóng thủy tinh, 01 chai nước cùng ống hút nhựa đặt trên giường ngủ. Sau đó H lấy túi ma túy đá mua được, đổ một phần ma túy đá vào trong coóng; phần ma túy còn lại để ở dưới giường. H dùng bật lửa hơ nóng để đun chảy ma túy rồi mời Y và H cùng sử dụng. Quá trình sử dụng, H là người châm lửa mời Y hút ma túy. Sau khi hút được vài hơi, H nhắn tin qua ứng dụng Zalo rủ V đến nhà H chơi, ăn uống. V đồng ý. Đến khoảng gần 15 giờ cùng ngày, V đến nhà H. Lúc này, H và Y vẫn đang cùng sử dụng ma túy. H rủ V vào phòng ngủ để cùng sử dụng ma túy. V đồng ý. H là người châm lửa, mời V rồi đến Y sử dụng ma túy. Sau đó, V châm lửa cho H, V và Y sử dụng ma túy. Khi V tiếp tục châm lửa mời Y sử dụng ma túy thì Y tạm nghỉ nên V bỏ dụng cụ sử dụng ma túy xuống giường. Một lúc sau, H cầm và châm lửa cho V sử dụng. Lúc này, V bảo coóng bị tắc. H bảo V lấy coóng khác để ở trên quạt hơi nước sau lưng V. V lấy coóng mới để thay. H lấy nốt phần ma túy đá còn lại đổ vào coóng mới và châm lửa để ma túy tan chảy. Sau đó, V châm lửa cho Y sử dụng ma túy khoảng 03 lần, mời H sử dụng ma túy khoảng 4 lần. Ngoài ra, H cầm coóng châm lửa mời V sử dụng ma túy khoảng 03 lần. Quá trình sử dụng ma túy, Y không châm lửa mời ai sử dụng. Cả 03 người cùng sử dụng hết số ma túy trong coóng. Sau đó, Y tự điều khiển xe mô tô đi về nhà. V điều khiển xe mô tô của V chở H đến quán internet ở thị trấn Thanh Miện, huyện Thanh Miện chơi rồi V đi về nhà. Đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, do nghi ngờ V có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã Q, huyện G mời đến trụ sở làm việc. Tiến hành kiểm tra chất ma túy trong cơ thể, xác định V dương tính với ma túy, loại MET (Methamphetamine). V khai nhận chiều ngày 15/12/0024, V cùng Lê Văn H và anh Vũ Minh Y cùng nhau sử dụng ma túy đá tại phòng ngủ tầng 1 nhà H. Tiến hành lấy lời khai của H và Y, cả hai đều thừa nhận và trình bày hành vi cùng V sử dụng ma túy đá như V khai báo. Kết quả kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy xác định: Lê Văn H dương tính với ma túy dạng MET (Methamphetamine); Vũ Minh Y dương tính với ma túy dạng MET (Methamphetamine) và AMP (Amphetamine). Quá trình làm việc, Lê Văn H tự nguyện giao nộp: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá gồm: 01 Coóng thuỷ tinh màu trắng, có 01 đầu hình trụ (dạng ống rỗng), phần còn lại được uốn cong có phần đầu dạng hình cầu, bên trong có chất bám dính màu đen nâu, 02 túi nilon nhỏ màu trắng có khoá Zip viền màu trắng, bên trong 02 túi có bám dính chất rắn dạng tinh thể màu trắng (được niêm phong ký hiệu M); 01 đoạn ống hút màu trắng đỏ và 01 chai nhựa nắp màu đen, đục hai lỗ nhỏ, bên trong chai nhựa có 02 đoạn ống hút nhựa màu trắng, có gạch màu đỏ, đoạn còn lại màu trắng; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy S6; Số seri: R58G401BJXZ, lắp sim số: 0899600321, màu vàng nhạt.

Tại Kết luận giám định số 13/KL-KTHS ngày 18/12/2024 của Phòng kỹ

thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận:

Mẫu chất bột (dạng cục) màu trắng trong túi nilon mà trắng được niêm

phong trong phong bì ký hiệu A1, khối lượng là: 0,250 gam, gửi giám định, là ma túy, loại Heroine (Heroin).

Mẫu chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt mảnh giấy thiếc màu bạc,

được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1, gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu chất màu đen

bám dính bên trong bầu coóng thủy tinh, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M gửi đến giám định. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

Mẫu chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong 02 túi nilon màu trắng,

được niêm phong trong phong bì ký hiệu M gửi đến giám định, là ma túy, loại: Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính đều rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

Quá trình điều tra các bị cáo Lê Văn H, Phạm Văn V, Nguyễn Văn K đã

khai nhận thành khẩn hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKSGL ngày 10/05/2025, Viện kiểm sát nhân

dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Lê Văn H về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS và tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; bị cáo Phạm Văn V về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS; bị cáo Nguyễn Văn K về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa: Các bị cáo Lê Văn H, Phạm Văn V và Nguyễn Văn K đã

thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn V gửi bài luận cứ bào chữa cho bị cáo

khẳng định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo, do vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo mức án 07 năm tù; Về hình phạt bổ sung không áp dụng và miễn án phí cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết

định truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

a) Về trách nhiệm hình sự:

- Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo: Lê Văn H và Phạm Văn V phạm

tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; bị cáo Nguyễn Văn K và Lê Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Về hình phạt:

+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38,

Điều 17, Điều 58 BLHS, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 05 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/12/2024.

+ Áp dụng b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1

Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; Điều 17, Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 7 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 05 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Văn Hưng phải chấp hành từ 08 năm 09 tháng tù đến 09 năm 05 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/12/2024.

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38;

Điều 17, Điều 58 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn V từ 07 năm 03 tháng đến 07 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/12/2024.

- Hình phạt bổ sung: Không

b) Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46;

khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

- Tịch thu, tiêu huỷ: 0,194 gam ma túy loại Heroine; 01 vỏ túi nilon màu

trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu A1 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 mảnh giấy thiếc màu bạc (được niêm phong ký hiệu T1); 01 coóng thủy tinh và 01 vỏ phong bì ký hiệu M niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 02 vỏ túi nilon màu trắng (đều niêm phong ký hiệu T2). Hai phong bì niêm phong ký hiệu T1, T2 được niêm phong số: 13/KL-KTHS. 01 hộp bìa cát tông bên trong là bộ dụng cụ dùng để sử dụng chất ma túy gồm: 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu đen, đục hai lỗ nhỏ, bên trong chai nhựa có 02 đoạn ống hút, một đoạn màu trắng có gạch đỏ, đoạn còn lại màu trắng và 01 đoạn ống hút màu trắng đỏ (được niêm phong ký hiệu M1).

- Tịch thu sung quỹ nhà nước giá trị: 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG

Galaxy A14 5G, màu tím; 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG kiểu máy SM-G92F, màu vàng và 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu WISH, kiểu dáng Wave, màu xanh, biển số 34F9-8910. Đề nghị nhà mạng viễn thông thu hồi 03 sim điện thoại số: 0342150562 và 0899600321.

- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn V: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S Plus,

màu vàng, lắp sim số 0396444993.

- Truy thu của bị cáo Lê Văn H số tiền 300.000 đồng để sung quỹ Nhà

nước.

c) Về án phí: Căn cứ các điều 135, 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí năm

2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn K và Lê Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Văn V

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát

viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

Về hành vi: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai

của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 23 giờ 40 phút ngày 15/12/2024, tại phòng 205, nhà nghỉ Chấn Phong, thuộc thôn Đĩnh Đ1, xã Đ2, huyện G, tỉnh Hải Dương, Công an xã Đ2, huyện G phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn K đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, thu giữ trên mặt bàn uống nước phòng nghỉ: 01 túi nilon nhỏ màu trắng bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, là ma tuý, loại Heroine, có khối lượng là 0,250 gam và 01 mảnh giấy thiếc màu bạc, trên bề mặt có bám dính chất bột dạng cục màu trắng, là ma tuý, loại Heroine, lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng và dụng cụ sử dụng ma tuý. Nguồn gốc số ma tuý Heroine trên, K nhờ Lê Văn H mua hộ với giá 200.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/12/2024, tại phòng ngủ tầng 1, nhà ở của

Lê Văn Hưng tại thôn Đ, xã N, huyện G, tỉnh Hải Dương, Lê Văn H và Phạm Văn V có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine cho nhau và cho Vũ Minh Y.

Về tội danh: Loại ma túy các bị cáo tàng trữ trái phép là Heroin năm

trong danh mục IA, STT 9 và Tổ chức sử dụng trái phép là Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT 323 Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy còn là mầm mống làm phát sinh một số loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng nặng nề cho sức khỏe của con người và kinh tế của gia đình người sử dụng nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, các bị cáo vẫn cố ý sử dụng trái phép chất ma túy.

Các bị cáo Lê Văn H, Phạm Văn V và Nguyễn Văn K đều là người có đầy

đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tìm người sử dụng, cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ để tổ chức thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy là những hành vi vi phạm, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo K và H tàng trữ 0,250 gam Heroine nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Hưng và bị cáo Việt tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy nên hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Đối với hai người trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên có căn cứ, đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Văn H có 01 tiền án chưa được xóa

án nay lại phạm tội do lỗi cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “ tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Bị cáo V và bị cáo K không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra các bị cáo H, V, K đã thành

khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

. Phân tích tính chất, vị trí, vai trò của các bị cáo thấy rằng: Trong vụ

án Tàng trữ trái phép chất ma túy bị cáo Nguyễn Văn K là người nhờ bị cáo H đi mua ma túy và đưa cho H 500.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân nên K giữ vai trò chính, H giữ vai trò đồng phạm giúp sức. Trong vụ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị cáo H là người rủ rê, chuẩn bị dụng cụ và chất ma túy để cho Vũ Minh Y và bị cáo Việt sử dụng nên giữ vai trò chính, bị cáo V sau khi được rủ có hành vi thay cóong thủy tinh, châm lửa để H và Y sử dụng ma túy nên giữ vai trò đồng phạm giúp sức.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo đều tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân tốt. Bị cáo H có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo K nhân thân bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó là bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng, chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.

Bị cáo H phạm hai tội nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật

hình sự để tổng hợp buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo đều làm lao động tự do, không có

nghề nghiệp ổn định và không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng:

- Đối với 0,194 gam ma túy loại Heroine; 01 vỏ túi nilon màu trắng và 01

vỏ phong bì ký hiệu A1 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 mảnh giấy thiếc màu bạc (được niêm phong ký hiệu T1); 01 coóng thủy tinh và 01 vỏ phong bì ký hiệu M niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 02 vỏ túi nilon màu trắng (đều niêm phong ký hiệu T2). Hai phong bì niêm phong ký hiệu T1, T2 được niêm phong số: 13/KL-KTHS là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, vật nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy

- Đối với 01 hộp bìa cát tông màu đen, trắng bên trong có chứa: 01 chai

nhựa màu trắng, nắp màu đen đục hai lỗ nhỏ, bên trong chai nước có chứa 02 đoạn ống hút nhựa, một đoạn màu trắng và một đoạn ống hút nhựa màu trắng có gạch đở và 01 đoạn ống hút màu trắng đỏ (được niêm phong ký hiệu M1); 01 bật lửa gas màu đỏ nhãn hiệu HOA VIỆT (được niêm phong ký hiệu A2); là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu cho tiêu hủy

- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A14 5G, màu tím,

lắp sim số 0342150562 của bị cáo Nguyễn Văn K; 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG kiểu máy SM-G92F, màu vàng, lắp sim số 0899600321 của bị cáo Lê Văn H; đây là phương tiện các bị cáo liên hệ với nhau để mua ma túy cần tịch thu sung quỹ nhà nước và tịch thu tiêu hủy đối với hai sim số 0342150562 và số 0899600321.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu vàng, lắp sim số

0396444993 của bị cáo Phạm Văn V không liên hệ để đến sử dụng ma túy nên cần trả lại cho bị cáo.

- 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu WISH, kiểu dáng Wave, màu xanh,

biển số 34F9-8910 của bị cáo K cho bị cáo H mượn để đi mua ma túy sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.

- Đối với số tiền 300.000 đồng bị cáo K cho bị cáo H đây là số tiền thu lợi

bất chính nên cần truy thu sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo Lê Văn H và Nguyễn Văn K phải chịu án phí

hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phạm Văn V thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí theo quy định của Pháp luật.

Về vấn đề khác: Về nguồn gốc ma tuý Heroine và Methamphetamin, H

khai nhận mua được của người đàn ông không quen biết ở khu vực phố Cao, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Quá trình điều tra, không xác định được người này là ai, ở đâu nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý vào tối ngày 15/12/2024

của Nguyễn Văn K tại Phòng 205 nhà nghỉ Chấn Phong và của Lê Văn Hưng, Phạm Văn V, Vũ Minh Y tại nhà ở của H. Ngày 25/02/2025, Công an huyện Gia Lộc đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Anh Trần Văn Ph, sinh năm 1993, trú tại thôn Đ1, xã Đ2, huyện G, là chủ

nhà nghỉ Chấn Phong, là người phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn K. Anh Ph đã trình báo Công an xã Đ2 để yêu cầu ngăn chặn, xử lý theo quy định vì vậy không đặt vấn đề xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1

Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm a khoản 1 Điều 55; khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn H.

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38;

Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn V.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38;

Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn K.

Căn cứ khoản 1 Điều 46; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm

a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 129, 130, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H, Phạm Văn V phạm tội "Tổ

chức sử dụng trái phép chất ma túy". Bị cáo Nguyễn Văn K, Lê Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Lê Văn H 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ

chức sử dụng trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo H phải chấp hành là 08 (tám) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/12/2024.

2.2. Xử phạt bị cáo Phạm Văn V 07 (bẩy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn

chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/12/2024.

2.3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời

hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/12/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu cho tiêu hủy: 0,194 gam ma túy loại Heroine; 01 vỏ túi nilon

màu trắng và 01 vỏ phong bì ký hiệu A1 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 mảnh giấy thiếc màu bạc (được niêm phong ký hiệu T1); 01 coóng thủy tinh và 01 vỏ phong bì ký hiệu M niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 02 vỏ túi nilon màu trắng (đều niêm phong ký hiệu T2). Hai phong bì niêm phong ký hiệu T1, T2 được niêm phong số: 13/KL-KTHS; 01 hộp bìa cát tông màu đen, trắng bên trong có chứa: 01 chai nhựa màu trắng, nắp màu đen đục hai lỗ nhỏ, bên trong chai nước có chứa 02 đoạn ống hút nhựa, một đoạn màu trắng và một đoạn ống hút nhựa màu trắng có gạch đở và 01 đoạn ống hút màu trắng đỏ (được niêm phong ký hiệu M1); 01 bật lửa gas màu đỏ nhãn hiệu HOA VIỆT (được niêm phong ký hiệu A2);

- Đề nghị nhà mạng Viettel thu hồi số thuê bao di động 0342150562 và

0899600321 tịch thu số tiền còn lại trong các sim (nếu có).

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy

A14 5G, màu tím, lắp sim số 0342150562 của bị cáo Nguyễn Văn K; 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG kiểu máy SM-G92F, màu vàng, lắp sim số 0899600321 của bị cáo Lê Văn H;

- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu

WISH, kiểu dáng Wave, màu xanh, biển số 34F9-8910 cho bị cáo Nguyễn Văn K.

- Trả lại bị cáo Phạm Văn Việt 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S Plus, màu

vàng, lắp sim số 0396444993.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an

huyện Gia Lộc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc ngày 29/05/2025).

- Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền 300.000 đồng của bị cáo Lê Văn

H.(chưa thu).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Văn K mỗi bị cáo phải chịu

200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Văn V.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời

hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ