- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10-HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2025/HS-ST Ngày: 24/9/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Toán và ông Nguyễn Trọng Bộ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng Nga, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2025/HSST ngày 11 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HS ngày 12/9/2025, đối với bị cáo Nguyễn Văn T, sinh ngày 01 tháng 6 năm 1992, CCCD số 031092012494. Nơi cư trú: Tổ dân phố K, phường A, thành phố Hải Phòng (Trước là KDC K, phường L, quận A, thành phố Hải Phòng). Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 6/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị T1. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình và chưa có vợ con.
Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án.
Bản án số 58/2015/HSST ngày 17/11/2015, Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng) xử phạt Nguyễn Văn T 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/7/2018, chấp hành xong phần thi hành án dân sự của Bản án ngày 22/11/2016.
Bản án số 54/2019/HSST ngày 27/9/2019, Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng) xử phạt Nguyễn Văn T 05 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/11/2024.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 162/2011/HSST ngày 23/12/2011, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh) xử phạt Nguyễn Văn T 12 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi phạm tội xảy ra ngày 21/4/2010 (T chưa đủ 18 tuổi) nên không coi là án tích. T chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/8/2012, chưa chấp hành xong phần thi hành án dân sự của Bản án.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/6/2025 đến ngày 23/6/2025 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Vũ Thị Kim A, Trần Văn Đ1 và Hứa Thị T2.
(Những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 ngày 16/6/2025, Nguyễn Văn T thuê xe taxi (không rõ hãng xe và người lái xe) đến khu vực cầu quay thuộc thành phố Hải Phòng tìm mua ma túy loại “đá” để sử dụng. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông (không rõ họ tên, tuổi, địa chỉ) 01 gói giấy kích thước khoảng (1,5x2)cm bên trong chứa ma túy “đá” với giá 500.000 đồng và xin người này được 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm: 01 chai nhựa màu trắng, có dán nhãn “Belmons”, nắp chai màu trắng được đục 02 lỗ nhỏ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 lỗ gắn coóng thủy tinh (theo T khai). Sau đó, T tiếp tục đi xe taxi đến đón bạn là Vũ Thị Kim A, sinh năm 1992 ở số C đường V, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng (nay là phường L, thành phố Hải Phòng) đi chơi. Khoảng 22 giờ cùng ngày, T rủ Kim A vào nhà nghỉ T3 (do bà Hứa Thị T2, sinh năm 1954 làm chủ) ở thôn C, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (nay là xã P, thành phố Hải Phòng). T gặp ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1965 (quản lý nhà nghỉ) thuê phòng 303. Khi vào phòng, T lấy ra bộ dụng cụ sử dụng ma túy và cho toàn bộ số ma túy mua được nêu trên vào trong coóng, dùng bật lửa gas màu đen của T đem theo hơ nóng bầu coóng, làm ma túy tan chảy, rồi hút khói ma túy vào cơ thể. Sau đó, T tiếp tục hơ lửa và cầm dụng cụ để cho Kim A hút khói ma túy vào cơ thể. Đến 01 giờ 30 phút ngày 17/6/2025, khi T và Kim A đang sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh H (nay là công an thành phố H) phối hợp với Công an xã K, huyện K (nay là Công an xã P, thành phố Hải Phòng) phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên giường ngủ trước mặt T và Kim A đang ngồi 01 bật lửa gas và bộ dụng cụ nêu trên, bên trong bầu coóng thủy tinh có bám dính chất tinh thể màu nâu, T và Kim A khai là dụng cụ T và Kim A sử dụng ma túy loại “đá”.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Kết luận giám định số 406/KL-KTHS ngày 19/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận: Mẫu chất tinh thể màu nâu bám dính bên trong bầu coóng thủy tinh, được niêm phong trong hộp bìa carton gửi đến giám định, là ma túy, loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng. H lại đối tượng giám định gồm: 01 chai nhựa màu trắng có dán nhãn “Belmons”, nắp chai màu trắng được đục 02 lỗ nhỏ, một lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, lỗ còn lại gắn 01 coóng thủy tinh nối với ống hút nhựa màu trắng và 01 bật lửa gas màu đen. Đối tượng giám định được hoàn lại trong 01 hộp bìa carton niêm phong số 406/KL-KTHS. Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 17/6/2025 của Nguyễn Văn T và Vũ Thị Kim A đều dương tính với chất ma tuý Methamphetamine.
Cáo trạng số 30/VKSKV10 ngày 11/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, thành phố Hải Phòng truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Văn T xác định Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng, không oan; bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, thành phố Hải Phòng giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/6/2025.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 chai nhựa màu trắng có dán nhãn “Belmons”, nắp chai màu trắng được đục 02 lỗ nhỏ, một lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, lỗ còn lại gắn 01 coóng thủy tinh nối với ống hút nhựa màu trắng và 01 bật lửa gas màu đen, là đối tượng giám định được hoàn lại trong phong bì niêm phong số 406/KL-KTHSngày 19/6/2025 của Phòng K - Công an tỉnh H.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai của người làm chứng tại Cơ quan điều tra, Kết luận giám định, Kết quả test ma túy và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ khoảng 22 giờ ngày 16/6/2025 đến 01 giờ 30 phút ngày 17/6/2025, tại phòng 303 nhà nghỉ T3 ở thôn C, xã P, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Văn T có hành vi chuẩn bị địa điểm, cung cấp, chuẩn bị chất ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý để T cùng Vũ Thị Kim A sử dụng trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine, thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 17/6/2025 của Nguyễn Văn T và Vũ Thị Kim A đều dương tính với chất ma tuý Methamphetamine.
. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, song vì thái độ coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
. Bị cáo Nguyễn Văn T đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
. Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10, thành phố Hải Phòng đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, chế độ quản lý đặc biệt đối với chất ma tuý của Nhà nước nên Hội đồng xét xử thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.
. Về nhân thân: Bản án số 162/2011/HSST ngày 23/12/2011, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 - Quảng Ninh) xử phạt Nguyễn Văn T xử phạt 12 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, hành vi phạm tội xảy ra ngày 21/4/2010 (T chưa đủ 18 tuổi) nên không coi là án tích. T chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/8/2012, chưa chấp hành xong phần thi hành án dân sự của Bản án.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T có hai tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện tội phạm “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo đã bị áp dụng là tình tiết định khung tăng nặng nên không phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp ổn định và thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Xác định 01 chai nhựa màu trắng có dán nhãn “Belmons”, nắp chai màu trắng được đục 02 lỗ nhỏ, một lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, lỗ còn lại gắn 01 coóng thủy tinh nối với ống hút nhựa màu trắng và 01 bật lửa gas màu đen, là đối tượng giám định được hoàn lại trong phong bì niêm phong số 406/KL-KTHSngày 19/6/2025 của Phòng K - Công an tỉnh H, là vật chứng của vụ án, vật không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
* Trong vụ án này:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vũ Thị Kim A, ngày 08/9/2025 Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật, là phù hợp.
Đối với bà Hứa Thị T2 và ông Trần Văn Đ1 (chủ và quản lý nhà nghỉ) cho T thuê phòng, tài liệu điều tra không có căn cứ xác định bà T2, ông Đ1 biết việc T tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do có nghi ngờ nên sau đó bà T2 đã trình báo cơ quan Công an nên Cơ quan điều tra không đặt ra việc xử lý.
Đối với người bán chất ma tuý cho Nguyễn Văn T, tài liệu điều tra không xác định được là ai, ở đâu, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 17/6/2025.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 01 chai nhựa màu trắng có dán nhãn “Belmons”, nắp chai màu trắng được đục 02 lỗ nhỏ, một lỗ gắn 01 ống hút nhựa màu trắng, lỗ còn lại gắn 01 coóng thủy tinh nối với ống hút nhựa màu trắng và 01 bật lửa gas màu đen.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 09 giờ 30 phút ngày 18/9/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 24/9/2025./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND khu vực 10-Hải Phòng; - VKSND thành phố Hải Phòng; - Trại tạm giam số 2 - Hải Phòng; - Phòng HSNV Công an thành phố Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT-Công an thành phố Hải Phòng; - Cơ quan THAHS-Công an thành phố Hải Phòng; - THADS thành phố Hải Phòng; - Hồ sơ vụ án, Văn phòng Tòa án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Trung |