- Tranh chấp gì? án hình sự — "tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo A và bị cáo C phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2023/HS-ST Ngày: 14/7/ 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Huỳnh Ngọc Trứ
Bà Đặng Thị Tiềm
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liễu – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2023/TLST- HS ngày 15 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2023/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
1/ A, sinh ngày 28 tháng 4 năm 1998 tại tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: ấp A1, xã A2, thị xã A3, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông B, sinh năm 1970 và bà B1, sinh năm 1973; bị can là con duy nhất trong gia đình; tiền án: không, tiền sự: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 27/2020/QĐ-TA ngày 27/4/2020, thời hạn 12 tháng, ngày 18/02/2021 chấp hành xong. Năm 2022 Công an xã A3 ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 31/QĐ-XPHC ngày 03/10/2022 về hành vi xử dụng trái phép chất ma túy, số tiền 1.500.000 đồng, ngày 30/3/2023 đã đóng phạt. Bị tạm giữ ngày 04/12/2022, chuyển tạm giam ngày 10/12/2022 (có mặt).
2/ C, sinh ngày 28 tháng 12 năm 1985 tại tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: khu phố C1, phường C2, thị xã C3, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D, sinh năm 1964 và bà D1, sinh năm 1966; anh chị em có 03 người, bị can là con lớn nhất trong gia đình; vợ D2, sinh năm 1989; con có 02 người lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án: không, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 04/12/2022, chuyển tạm giam ngày 10/12/2022 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
A, sinh ngày 28/4/1998, thường trú ấp A1, xã A2, thị xã A3, tỉnh Tiền Giang với C, sinh năm 1985, thường trú khu phố A1, phường C2, thị xã C3, tỉnh Tiền Giang và Đ, sinh năm 1995, thường trú ấp Đ1, xã Đ2, thị xã Đ3, tỉnh Tiền Giang là bạn bè với nhau và đều nghiện ma túy.
Theo A khai, khoảng 21 giờ ngày 03/12/2022 A điều khiển xe mô tô biển số 62FC – 5475 đến tiệm tạp hóa của X, sinh năm 1987 và chồng là H, sinh năm 1984, ngụ ấp H1, xã H2, thị xã H3 mua 200.000 đồng ma túy. Sau khi đem về nhà, A lấy ma túy ra bờ ruộng phía sau nhà sử dụng một mình và chừa lại phân nữa để lần sau sử dụng tiếp.
Khoảng 08 giờ ngày 04/12/2022 T (chưa rõ họ tên địa chỉ cụ thể) nhờ A chở T đến căn chòi của C thuộc khu phố C1, phường C2 thị xã C3 để mượn xe của Đ nên A điều khiển xe mô tô biển số 62FC-5475 chở T đi, trước khi đi A mang theo số ma túy còn lại hôm trước. Tại căn chòi của C, T đến mượn xe của L đi công việc, khi trong chòi còn có A, C, L thì A hỏi C bộ dụng cụ sử dụng ma túy để anh em cùng sử dụng thì C trả lời “để ở dưới giường” và quay mặt về hướng chiếc giường để chỉ cho A. A đi vào giường lấy bộ dụng cụ ra rửa và bật lửa lên hơ nỏ, lấy ma túy mang theo để vào trong nỏ, sau đó A rủ L và C vào sử dụng. A sử dụng ma túy xong rồi ra ngoài, tiếp theo đến L đi vào sử dụng ma túy xong rồi đi ra ngoài, C đi vào sử dụng ma túy sau cùng và dẹp dụng cụ sử dụng ma túy dưới giường rồi ra võng nằm. Khoảng 09 giờ cùng ngày thì lực lượng Công an đến lập biên bản và thu giữ tang vật.
Kết quả test ma túy xác định: C, A, L dương tính với ma túy.
Vật chứng thu giữ gồm:
- 01 nỏ thủy tinh dạng phễu, dưới đáy nỏ có 01 lớp màng màu xám nghi là ma túy (ký hiệu M1);
- 01 nỏ thủy tinh dạng phễu, dưới đáy nỏ có 01 lớp màng màu xám nghi là ma túy (ký hiệu M2);
- 01 bật lửa;
- 01 cái kéo bằng kim loại;
- 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu đỏ;
- 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu trắng;
- 01 ống hút 01 đầu gắn vào chai nước loại Sting;
- 01 hộp không nắp (loại hộp sữa);
- 01 xe mô tô loại Wave màu xanh biển số 62FC-5475.
Kết luận giám định số 126/KL-KTHS ngày 05/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận:
Gói 1 (ký hiệu M1): mẫu màng màu xám gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0114 gam, loại Methamphetamine
Gói 2 (ký hiệu M2): mẫu màng màu xám gửi giám định không trích ra được để tiến hành giám định, có khối lượng 0,0000 gam.
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKSTXCL ngày 15/5/2023 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo C, A về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo C, A đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không khiếu nại các quyết định cũng như hành vi của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thị xã Cai Lậy, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo C, A đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo A từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo C từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy: Gói 1: 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 126/1 ghi ngày 05 tháng 12 năm 2022, có các chữ ký in họ tên: G (Giám định viên), G1 (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: G2 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG trên bì thư. Bên trong có 01 (một) đoạn ống thủy tinh (nỏ) được uốn cong dạng phễu, dưới đáy nỏ có 0,0114 gam chất ma túy, loại Methamphetamine; Gói 2: 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 126/2 ghi ngày 05 tháng 12 năm 2022, có các chữ ký in họ tên: G3 (Giám định viên), G4 (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: G5 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG trên bì thư. Bên trong có 01 (một) đoạn ống thủy tinh (nỏ) được uốn cong dạng phễu, không có chất ma túy; 01 bật lửa; 01 cái kéo bằng kim loại; 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu đỏ; 01 ống hút 01 đầu gắn vào chai nước loại Sting; 01 hộp không nắp (loại hộp sữa) là công cụ phạm tội, vật cấm tàng trữ lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với 01 xe mô tô loại Wave, màu xanh biển số 62FC-5475 do chưa xác định được chủ sở hữu nên đề nghị giao lại cho cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để làm rõ xử lý sau.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo sẽ sửa sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Cai Lậy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của các bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa: Vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 04/12/2022 tại căn chòi của C có địa chỉ khu phố C1, phường C2, thị xã C3, tỉnh Tiền Giang bị cáo C có hành vi sử dụng địa điểm căn chòi của mình, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy cho bị cáo A và bị cáo A có hành vi cung cấp chất ma túy để cùng sử dụng trái phép chất ma túy với bị cáo C. Kết luận giám định số 126/KL-KTHS ngày 05/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Gói 1 (ký hiệu M1): mẫu màng màu xám gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0114 gam, loại Methamphetamine. Gói 2 (ký hiệu M2): mẫu màng màu xám gửi giám định không trích ra được để tiến hành giám định, có khối lượng 0,0000 gam. Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu bằng test thử ngày 04/12/2022 tại Công an thị xã Cai Lậy của A và C đều cho kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo A và bị cáo C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với ma túy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi của công dân về sử dụng chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, cần áp dụng pháp luật hình sự để xử lý nghiêm hành vi của các bị cáo để bị cáo có đủ thời gian cải tạo bản thân trở thành một công dân có ích cho xã hội và đồng thời cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo A và bị cáo C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hiếu và bị cáo Cường khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo A và bị cáo C được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo A có hai tiền sự do đó bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo C có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Do vậy, cần xem xét chiếu cố phần nào mức hình phạt đối với các bị cáo nhưng cũng phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt giúp ích cho xã hội sau này.
Quá trình điều tra bị cáo A khai mua ma túy của X, nhưng Xuân không thừa nhận có bán ma túy cho Hiếu vào ngày 03/12/2022. Hiện tại X và Lê Văn H (chồng của X) đang bị khởi tố về tội mua bán trái phép chất ma túy trong vụ án khác nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra về hành vi này, có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với người tên T chưa xác định được nhân dân, lai lịch nên chưa cơ quan điều tra chưa làm việc được. Nhưng theo lời khai của bị cáo A, bị cáo C và L thì T không có tham gia vào việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý.
Đối với L có sử dụng ma túy cùng với bị cáo A và bị cáo C nhưng không có hành vi giúp sức cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Công an thị xã Cai Lậy đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh L về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đối với TH có hành vi cho C nỏ, C tự chế thành dụng cụ để sử dụng ma túy. Do không xác định lai lịch nhân thân của TH nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy sẽ tiếp tục xác minh để làm rõ xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng vụ án:
Xét 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 126/1 ghi ngày 05 tháng 12 năm 2022, có các chữ ký in họ tên: G (Giám định viên), G1 (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: G2 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG trên bì thư. Bên trong có 01 (một) đoạn ống thủy tinh (nỏ) được uốn cong dạng phễu, dưới đáy nỏ có 0,0114 gam chất ma túy, loại Methamphetamine; Gói 2: 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 126/2 ghi ngày 05 tháng 12 năm 2022, có các chữ ký in họ tên: G3 (Giám định viên), G4 (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: G5 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ
- CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG trên bì thư. Bên trong có 01 (một) đoạn ống thủy tinh (nỏ) được uốn cong dạng phễu, không có chất ma túy; 01 bật lửa; 01 cái kéo bằng kim loại; 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu đỏ; 01 ống hút 01 đầu gắn vào chai nước loại Sting; 01 hộp không nắp (loại hộp sữa) là công cụ phạm tội, vật cấm tàng trữ lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 xe mô tô loại Wave, màu xanh biển số 62FC-5475 bị cáo Hiếu dùng làm phương tiện đi mua ma túy, xe là của bị cáo mua lại từ cửa hàng xửa xe, lúc mua không có giấy tờ mua bán và xe cũng không có giấy tờ. Quá trình điều tra vẫn chưa làm rõ được chủ sở hữu của xe mô tô loại Wave, màu xanh biển số 62FC-5475. Hiện xe do Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy tạm giữ. Do xe mô tô loại Wave, màu xanh biển số 62FC-5475 chưa xác định được chủ sở hữu nên Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy có nghĩa vụ giao lại 01 xe mô tô loại Wave, màu xanh biển số 62FC-5475 cho Cơ quan điều tra Công an thị xã Cai Lậy tiếp tục tạm giữ để làm rõ xử lý sau.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo A và bị cáo C bị kết án về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” nên theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo A, bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo A và bị cáo C phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo A 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/12/2022.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo C 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/12/2022.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 126/1 ghi ngày 05 tháng 12 năm 2022, có các chữ ký in họ tên: G (Giám định viên), G1 (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: G2 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG trên bì thư. Bên trong có 01 (một) đoạn ống thủy tinh (nỏ) được uốn cong dạng phễu, dưới đáy nỏ có 0,0114 gam chất ma túy, loại Methamphetamine; Gói 2: 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 126/2 ghi ngày 05 tháng 12 năm 2022, có các chữ ký in họ tên: G3 (Giám định viên), G4 (Trợ lý giám định viên), chữ ký ghi họ tên: G5 (Bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG trên bì thư. Bên trong có 01 (một) đoạn ống thủy tinh (nỏ) được uốn cong dạng phễu, không có chất ma túy; 01 bật lửa; 01 cái kéo bằng kim loại; 01 đoạn ống hút bằng nhựa màu đỏ; 01 ống hút 01 đầu gắn vào chai nước loại Sting; 01 hộp không nắp (loại hộp sữa)
Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền giang có nghĩa vụ giao lại 01 (một) xe mô tô loại Wave, màu xanh biển số 62FC-5475 cho Cơ quan điều tra Công an thị xã Cai Lậy tiếp tục tạm giữ để làm rõ xử lý sau.
Các vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quản lý (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/7/2023).
3. Về án phí sơ thẩm:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã Cai Lậy; - Cơ quan điều tra CA thị xã Cai Lậy; - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Kim Thoa |