vanban.org

Bản án 46/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 01/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về điều luật áp dụng và hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H 09 (chín) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀ ÔN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2023/HS-ST
Ngày: 01-8-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Phƣơng

Các Hội thẩm nhân dân: 1/Bà Nguyễn Thị Bé Ngoan

2/Ông Trần Văn Chiểu

- Thư ký phiên tòa:Bà Trần Thị Kiều Phương– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Longtham gia phiên tòa:Ông Kim Quang Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2023 đối vớibị cáo:

Nguyễn Tuấn H, sinh năm 1994, tại: huyện TB, tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: ấp DP, xã NT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Hoàng (đã chết) và bà Lê Thị B; anh chị em ruột có tất cả 03 người (kể cả bị cáo); có vợ: Nguyễn Thị Huyền T không có đăng ký kết hôn; con: Có 01 người; tiền sự; tiền án: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa

Về nhân thân:

Ngày 28/12/2015 bị Công an quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xử phạt hành chính số tiền 750.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Ngày 03/8/2018 bị Công an huyện TB xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000đ về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác.

Ngày 30/11/2009 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ tuyên phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 03 năm, về tội “Cướp giật tài sản” đã chấp hành xong và đã xóa án tích.

Ngày 24/8/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long phạt 02 năm tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong và đã xóa án tích.

Ngày 25/12/208 bị Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long tuyên phạt 02 năm tù giam về tội “Cố ý gây thương tích” Ngày 21/4/2020 chấp hành cong, đã xóa án tích.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1/ Phan Thị Cẩm T, sinh năm 1990 “vắng mặt”

Nơi cư trú: ấp ĐH, xã NT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Lê Minh T, sinh năm 1973 “có mặt”

3/ Võ Thị Thảo S, sinh năm 1979

Người đại diện hợp pháp cho chị S: Anh Lê Minh T đại diện theo uỷ quyền (văn bản uỷ quyền ngày 08/5/2023)

Cùng địa chỉ: ấp Tân An, xã Lục Sĩ Thành, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1989 “có mặt”

Nơi cư trú: ấp Tích Khánh, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long

2/ Nguyễn Văn T, sinh năm 1980 “vắng mặt”

Nơi cư trú: ấp ĐH, xã NT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

3/ Lê Thị B, sinh năm 1966 “có mặt”

Nơi cư trú: ấp DP, xã NT, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

4/ Lý Thị Sa R, sinh năm 1986 “vắng mặt”

Nơi cư trú: ấp Long Sơn 2, xã Long Thạnh, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Người làm chứng: Phạm Minh Tân, sinh năm 1989 “vắng mặt”

Nơi cư trú: ấp Mỹ An, xã Bình Ninh, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 08/3/2023, Nguyễn Tuấn H điều khiển xe mô tô biển đến nhà ban tên Phạm Minh Tân để rủ Tân đi bán bộ lư thì Tân đồng ý. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày thì Tân điều khiển xe mô tô hiệu Airblade biển số 64E1 - 341.25 chở H đến thị xã Bình Minh để bán bộ lư, nhưng không bán được nên cả hai quay về. Khoảng 14 giờ H chở Tân đi từ hướng chợ Trà Ôn về xã Thiện Mỹ đến đoạn ấp Mỹ Lợi, xã Thiện Mỹ thì H nhìn thấy xe mô tô Future biển số 64F1-381.19 của anh Lê Minh T đang đậu cặp bên lề phải, H điều khiển xe cách xe Future đang đậu khoảng 10m thì H dừng xe lại đi vệ sinh, lúc đó Tân cũng đi vệ sinh. H quan sát xung quanh không ai nên nảy sinh ý định lấy trộm xe Future. H nại được ổ khóa và ngồi lên xe khởi động chạy thẳng ra hướng cầu Bang Chang. Sau khi đi vệ sinh xong Tân thấy H leo lên xe Future nên Tân cũng điều khiển xe của Tân chạy theo, sau đó H nói Tân đừng chạy theo nữa thì Tân chạy về nhà. Sau khi trộm được xe thì H điều khiển xe về nhà đậu ở chồi phía sau. H kiểm tra trong cóp xe có nhiều loại giấy tờ và đem đốt giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giữ lại giấy đăng ký xe, bảo hiểm xe, căn cước công dân, giấy phép lái xe. Ngày 11/3/2023 H có ý định dùng xe trộm đươc làm phương tiện đi lại nên đã tháo biển số xe và phuộc xe Fiture ra và H lấy biển số 64F1-319.14 của vợ Nguyễn Thị Huyền T gắn vào xe Future còn biển số 64F1-318.19 H cất trong nhà, sau đó H điều khiển xe đi chơi game. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày H điều khiển xe Future quay về nhà thì bị lực lượng Công an kiểm tra và H thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản.

Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra chứng minh được Nguyễn Tuấn H còn thực hiện hành vi trộm trước đó: Vào ngày 20/01/2023 Nguyễn Tuấn H đưa con riêng của vợ là Nguyễn Bảo Ngọc đi khám bệnh tại Trung tâm y tế huyện Trà Ôn và được nằm lại tại phòng cấp cứu theo dõi. Đến khoảng 23 giờ 45 phút cùng ngày H đi ngang dãy đối diện thì phát hiện điện thoại di động Sam sung galaxy A9 màu hồng đang sạc pin của chị Phan Thị Cẩm T nên H nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại bỏ vào túi quần đang mặc và ra lấy xe chạy về nhà. Đến ngày 23/01/2023 H mang điện thoại vừa trộm được đi bán ở tiệm điện thoại Ngọc Linh do anh Võ Phước Ngọc làm chủ với số tiền 1.100.000đ H quay lại Trung tâm ý tế huyện Trà Ôn đưa tiền cho T đóng viện phí.

Theo kết luận định giá tài sản số 03/KLHĐ-ĐGTS ngày 28/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự huyện Trà Ôn thì điện thoại di động hiệu Sam sung galaxy A9 màu hồng có giá trị là 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Theo kết luận định giá tài sản số 11/KLHĐ-ĐGTS ngày 15/03/2023 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự huyện Trà Ôn thì xe mô tô nhãn hiệu Future màu xanh bạc, dung tích xi lanh 125cm3, biển số 64F1-381.19 có giá trị là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng)

Tang vật T giữ tại nhà của H khi thực hiện Lệnh khác xét khẩn cấp gồm: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu honda, số loại Future, màu sơn xanh bạc, số máy JC 76E0395824, số khung RLHJC 7639JZ066159 được gắn biển số 64F1-319.14; 01 tay thắng xe mô tô mày trắng và 01 ống kim loại hình tròn; 02 chai sơn phun màu đen; 04 kính chiếu hậu xe mô tô; 04 ốp lưng điện thoại; 01 cản sau xe máy bằng Inox; 01 điện thoại cảm ứng màu đen bị hư; 02 biển số xe 95E1-439.87; 02 tua vít; 01 cờ lê 12mm; 01 cờ lê 14mm; nhiều dụng cụ ốc vít kim loại; 01 áo thu màu trắng tay dài; 01 áo sơ mi màu tối có nút màu vàng; 01 quần sọt Jean màu tối; 01 mũ kiểu màu xanh; 01 biển só xe 64F1-381.19.

Nguyễn Tuấn H giao nộp 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu trắng, 01 đôi dép kẹp màu đen, 01 cờ lê 10mm và 01 cờ lê 8mm.

Phạm Minh Tân giao nộp; 01 nón bảo hiểm chất liệu xốp vàng và lưỡi trai màu đen, phía trên đỉnh nón có 03 sọc màu xanh trắng đỏ; 01 đôi dép kẹp màu đen.

Ông Nguyễn Văn T giao nộp giúp H gồm: 01 căn cước công dân số 086073009859 mang tên Lê Minh T; 01 giấy pháp lái xe hạng A1 860945000765 mang tên Lê Minh T; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 64F1-391.19 do Võ Thị Thảo S đứng tên số 027334; 01 chứng nhận bảo hiểm xe mô tô xe máy số 21XMP210178460

Ngày 11/3/2023Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Ôn ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Tuấn H về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngày 03/5/2023 Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, ngày 15/5/2023 quyết định nhập vụ án hình sự điều tra xử lý chung.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Tuấn H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản tạm giữ tang vật biên bản khám nghiệm hiện trường

Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe môt tô nhãn hiệu hon da, số loại Future màu sơn xanh bạc, số máy JC76E; 0395824; số khung RLHJC7639JZ66159; biển số xe 64F1-381.19; 01 căn cước công dân số 086073009859 mang tên Lê Minh T; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 860945000765 mang tên Lê Minh T; 01 giấy đăng ký xe môt tô bển số 64F1-381.19 do Nguyễn Thị Thảo S đứng tên, số 027334; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô, xe máy số 21XMP210178460 thì cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Trà Ôn đã trả lại cho T xong.

01 tay thắng xe mô tô màu trắng và 01 ống kim loại hình tròn; 02 chai sơn phun màu đen; 02 chai sơn màu trắng đã sử dụng; 04 kính chiếu hậu xe mô tô; 04 ốp lưng điện thoại; 01 cản sau xe máy bằng inox; 01 điện thoại cảm ứng màu đen bị hư; 01 bình ắc quy xe máy (06V); 01 biển số xe 95E1-438.87 do Lý Thị Sa R đứng tên, chị R xác định đã bán, qua tra cứu hệ thống của thông tin không có tin báo mất trộm xe, bị cáo H khai nhặt được biển số xe. Xét thấy đồ vật này không liên quan đến hành vi trộm của bị cáo H nên cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Trà Ôn trả lại cho bị cáo H xong.

02 tua vít, 01 cờ lê 12mm, 01 cờ lê 14mm và nhiều dụng cụ ốc vít kim loại; 01 áo thun màu trắng tay dài, 01 áo sơ mi màu tối có nút màu trắng, 01 quần sọt jean màu tối; 01 mũ kiểu màu xanh, 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu trắng, 01 dép kẹp bằng nhựa màu đen, 01 cờ lê 10mm và 01 cơ lê 08mm hiện cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Trà Ôn đang quản lý.

01 nón bảo hiểm chất liệu xốp vàng và lưỡi trai màu đen, phía trên đình nón có 03 sọc màu xanh trắng đỏ, 01 đôi dép loại dép kẹp màu đen của Pham Minh Tân giao nộp hiện cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Trà Ôn đã trả lại cho Tân xong.

Tang vật không thu giữ được: 01 điện thoại di động Sam sung galaxyA9 màu hồng của chị T bị cáo bán cho Võ Phước Ngọc nhưng hiện anh Ngọc không nhớ có mua điện thoại này hay không và trong cửa hàng cũng không có điện thoại có đặc điểm giống điện thoại mà bị cáo bán nên không thu giữ được

Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị B là mẹ ruột của bị cáo H đã thay bị cáo bồi thường số tiền 2.500.000đ cho chị T và vợ chồng anh Lê Minh T, chị Võ Thị Thảo S số tiền 10.000.000đ, hiện chị T, anh T, chị S không yêu cầu gì thêm.

Bà Lê Thị B xác định số tiền bà bồi thường cho chị T, anh T, chị S là tiền cá nhân của bị cáo bà không yêu cầu gì đối với bị cáo.

Tại bản cáo trạng số: 49/CT-VKSTÔ ngày 15/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Tuấn H thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn truy tố bị cáo là đúng hành vi của bị cáo, không oan, bị cáo khai nhận:Vào khoảng 14 giờ ngày 08/3/2023, tại ấp Mỹ Lợi, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo Nguyễn Tuấn H đã có hành vi trộm cắp xe mô tô nhãn hiệu hon da số loại Future màu xanh bạc biển số 64F1-381.19 có giá trị 15.000.000đ của vợ chồng anh Lê Minh T và chị Võ Thị Thảo S nhằm mục đích làm phương tiện đi lại.

Ngoài ra cơ quan điều tra còn chứng minh được trước đó vào khoảng 23 giờ 45 ngày 20/01/2023 tại phòng cấp cứu của Trung tâm y tế huyện Trà Ôn bị cáo Nguyễn Tuấn H có hành vi lấy trộm điện thoại di động Sam sung galaxy A9 màu hồng có giá trị 2.500.000đ bán được số tiền 1.100.000đ đã trả viện phí hết.

Như vậy tổng giá trị tài sản mà bị cáo Nguyễn Tuấn H pH chịu trách nhiệm hình sự là 17.500.000đ. Bị cáo đã biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đối với Võ Phước Ngọc không xác định được có mua điện thoại di động do bị cáo H bán hay không, Nguyễn Thị Huyền T không biết tiền bị cáo H đưa là tiền bán điện thoại vừa lấy trộm nên không đề cập xử lý Ngọc và T là có cơ sở.

Đối với Phạm Minh Tân đi chung với bị cáo H không biết việc bị cáo H nảy sinh ý định lấy trộm xe và bị cáo H không bàn bạc với Tân, bản thân Tân không hưởng lợi gì nên không xử lý Tân đồng phạm về tội trộm cắp tài sản là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Phan Thị Cẩm T, Lê Minh Thuận và Võ Thị Thảo S đã nhận số tiền bồi thường xong nên không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn trình bày luận tội vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn H theo tội danh và Điều luật đã nêu trong Cáo trạng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H từ 09 tháng đến 01 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 02 tua vít, 01 cờ lê 12mm, 01 cờ lê 14mm, nhiều dụng cụ ốc vít kim loại; 01 áo thun màu trắng dài tay, 01 áo sơ mi màu tối có nút màu trắng, 01 quần sọt jean màu tối, 01 mũ kiểu màu xanh, 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu trắng, 01 đôi dép kẹp bằng nhựa màu đen, 01 cờ lê 10mm và 01 cờ lê 8mm.

Về trách nhiệm dân sự: do bị cáo đã bồi thường xong nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trà Ôn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Những chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản sự việc cùng các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, qua đó xác định: Vào khoảng 14 giờ ngày 08/3/2023, tại ấp Mỹ Lợi, xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo Nguyễn Tuấn H đã có hành vi lén lút xe mô tô nhãn hiệu hon da số loại xe future màu xanh bạc biển số 64F1-381.19 của anh Lê Minh T và chị Võ Thị Thảo S nhằm mục đích làm phương tiện đi lại trị giá là 15.000.000đ. Ngoài ra vào khoảng 23 giờ 45 phút ngày 20/01/2023 tại phòng cấp cứu trung tâm y tế huyện Trà Ôn bị cáo Nguyễn Tuấn H đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động Sam sung galaxy A9 màu hồng có trị 2.500.000đ bị cáo bán đươc 1.100.000đ và đã trả viện phí hết. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, cáo trạng số 49/CT-VKSTÔ ngày 15/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn truy tố bị cáo và lời đề nghị của vị Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho các bị cáo.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội củabị cáoNguyễn Tuấn H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ sức khỏe để lao động tạo ra của cải nuôi sống bản thân và gia đình, trái lại bị cáo không lo chí thú làm ăn mà có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác nhằm mục đích vun vén cho quyền lợi cá nhân, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cho thấy hành vi của các bị cáo là xem thường tài sản của người khác và xem thường sự trừng phạt của pháp luật, nên cần phải xử lý nghiêm minh. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đểbị cáo cải tạo, sửa chữa trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời ngăn chặn những hành vi tương tự khác có thể xảy ra.

Xét lời đề nghị của vị Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở nên chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Tuấn H bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện sữa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi lượng hình Hội đồng xét xử cần áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị B là mẹ ruột bị cáo H đã bồi thường anh Lê Minh Tuấn, chị Võ Thị Thảo S số tiền 10.000.000đ, chị Phan Thị Cẩm T số tiền 2.500.000đ không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà Lê Thị B không yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng:Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

Xét thấy trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Ôn đã trả lại cho bị hại anh Lê Minh T 01 xe mô tô nhãn hiệu hon da số loại Future F1 màu sơn xanh bạc, số máy JC76E; 0395824, số khung RLHJC7639JZ066159; 01 biển số xe 64F1-381.19; o1 giấy căn cước công dân số 086073009859 mang tên Lê Minh T; 01 giấy đăng ký xe môt tô biển số 64F1-381.19 do Nguyễn Thị Thảo S đưng tên, số 027334; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô, xe máy số 21XMP210178460 là có căn cứ

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Ôn đã trả lại cho bị cáo H 01 tay thắng xe mô tô màu trắng và 01 ống kim loại hình tròn; 02 chai sơn phun màu đen; 02 chai sơn màu trắng đã sử dụng; 04 kính chiếu hậu xe mô tô; 04 ốp lưng điện thoại; 01 cản sau xe máy bằng inox; 01 điện thoại cảm ứng màu đen bị hư; 01 bình ắc quy xe máy (06V); 01 biển số xe 95E1438.87 do Lý Thị Sa R đứng tên, chị R xác định đã bán, qua tra cứu hệ thống của thông tin không có tin báo mất trộm xe, bị cáo H khai nhặt được biển số xe là có căn cứ vì đây là tài sản cá nhân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo là có căn cứ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Ôn đã trả lại cho Phạm Minh Tân 01 nón bảo hiểm chất liệu xốp vàng và lưỡi trai màu đen, phía trên đình nón có 03 sọc màu xanh trắng đỏ, 01 đôi dép loại dép kẹp màu đen của Pham Minh Tân đây tài sản cá nhân của nên trả lại cho anh Tân là có căn cứ.

Đối với 01 điện thoại di động Sam sung galaxy A9 màu hồng của chị T , bị cáo khai bán cho anh Võ Phước Ngoạc nhưng anh Ngọc không nhớ có mua điện thoại hay không, trong cửa hàng không có đặc điểm điện thoại mà bị cáo bán nên không thu giữ được nên không đề cập xử lý là có căn cứ.

Về các vấn đề khác:

Đối với Võ Phước Ngọc không xác định được có mua điện thoại di động của bị cáo H hay không, Nguyễn Thị Huyền T không biết số tiền bị cáo H đưa là tiền vừa lấy trộm điện thoại bán được nên không đề cập xử lý Ngọc và T là có cơ sở.

Đối với Phạm Minh Tân đi chung với bị cáo H, việc bị cáo H nảy sinh ý định lấy trộm xe biển số 64F1-381.19 không có bàn bạc với Tân, sau khi lấy trộm bị cáo H điều khiển xe về nhà, bản thân Tân không hưởng lợi gì nên không xử lý Tân về đồng phạm là có căn cứ

Về án phí sơ thẩm: Áp dụngĐiều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2.Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52 ; điểm b, h, s khoản 1, Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn H 09 (chín) tháng tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 11/3/2023.

3.Về trách nhiệm dân sự:

Bà Lê Thị B là mẹ ruột bị cáo H đã bồi thường cho anh Lê Minh T, chị Võ Thị Thảo S số tiền 10.000.000đ, chị Phan Thị Cẩm T số tiền 2.500.000đ không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà Lê Thị B không yêu cầu gì đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự:

Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Ôn đã trả lại cho bị hại anh Lê Minh T 01 xe mô tô nhãn hiệu hon da số loại Future màu sơn xanh bạc, số máy JC76E; 0395824, số khung RLHJC7639JZ066159; 01 biển số xe 64F1-381.19; 01 giấy căn cước công dân số 086073009859 mang tên Lê Minh T; 01 giấy đăng ký xe môt tô biển số 64F1-381.19 do Nguyễn Thị Thảo S đưng tên số 027334; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô, xe máy số 21XMP210178460 là có căn cứ.

Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Ôn đã trả lại cho bị cáo H 01 tay thắng xe mô tô màu trắng và 01 ống kim loại hình tròn; 02 chai sơn phun màu đen; 02 chai sơn màu trắng đã sử dụng; 04 kính chiếu hậu xe mô tô; 04 ốp lưng điện thoại; 01 cản sau xe máy bằng inox; 01 điện thoại cảm ứng màu đen bị hư; 01 bình ắc quy xe máy (06V); 01 biển số xe 95E1- 438.87 do Lý Thị Sa R đứng tên, chị R xác định đã bán, qua tra cứu hệ thống của thông tin không có tin báo mất trộm xe, bị cáo H khai nhặt được biển số xe là có căn cứ vì đây là tài sản cá nhân bị cáo H.

Chấp nhận việc cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trà Ôn đã trả lại cho anh Tân 01 nón bảo hiểm chất liệu xốp vàng và lưỡi trai màu đen, phía trên đình nón có 03 sọc màu xanh trắng đỏ, 01 đôi dép loại dép kẹp màu đen của Pham Minh Tân là có căn cứ.

Tịch thu tiêu hủy: 02 tua vít, 01 cờ lê 12mm, 01 cờ lê 14mm và nhiều dụng cụ ốc vít kim loại; 01 áo thun màu trắng tay dài, 01 áo sơ mi màu tối có nút màu trắng, 01 quần sọt jean màu tối; 01 mũ kiểu màu xanh, 01 mũ bảo hiểm bằng nhựa màu trắng, 01 dép kẹp bằng nhựa màu đen, 01 cờ lê 10mm và 01 cơ lê 08mm. Hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Ôn đang quản lý theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/6/2023.

5.Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự vàđiểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQHngày 30/12/2016của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Buộc Nguyễn Tuấn Hnộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã, phường nơi cư trú.

Cỡ chữ