vanban.org

Bản án 46/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 08/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Mua bán hàng cấm”;

Xử phạt Nguyễn Văn D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn D cho Ủy ban nhân dân xã T V, huyện T D, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D phạm tội mua bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Mua bán hàng cấm”;
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VĨNH YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2022/HS-ST
Ngày 08 tháng 4 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Đình Bàn và bà Nguyễn Thị Thúy Nga

Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Tuấn Mạnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án Nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2022/TLST- HS ngày 22/3/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2022/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 3 năm đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D, sinh ngày 29/07/1984, tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N M, xã T V, huyện T D, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Cao Thị Đ; có vợ là Nguyễn Thị L1 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/01/2022 – 05/01/2022 được tại ngoại (có mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1973; địa chỉ: Xóm C, xã Đ T, thành phố V Y, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu mua pháo về sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán 2022 và bán cho những người quen nên Nguyễn Văn D đã lên mạng xã hội Facebook để tìm mua pháo. D đã sử dụng tài khoản Facebook là “Dung Nguyen” tìm kiếm mua pháo trên mạng xã hội Facebook. Qua tìm kiếm, D thấy một người có tài khoản Facebook là “Tran Manh” rao bán pháo hoa nổ (D không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người chủ tài khoản Facebook này), D liền nhắn tin qua ứng dụng Messenger để hỏi mua pháo hoa nổ của người có tài khoản Facebook “Tran Manh” này. Qua nhắn tin, hai người thỏa thuận thống nhất mua, bán pháo với giá 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng) một hộp pháo hoa nổ, loại 36 quả/hộp. Ngày 01/01/2022, D sử dụng ứng dụng Messenger bằng tài khoản Facebook “Dung Nguyen”của mình để liên lạc với người có tài khoản Facebook “Tran Manh” và thống nhất giao dịch mua bán pháo hoa nổ tại khu vực khách sạn Trung Du, phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, D điều khiển xe máy BKS: 88K1-327.52 xuống thành phố Vĩnh Yên để mua pháo, khi đi đến vị trí cách cổng khách sạn Trung Du khoảng 100 m thì thấy có một nam thanh niên đứng đợi sẵn. Thấy D đi lại người này hỏi: “Anh lấy pháo à”, D đáp: “ừ”, người này bảo: “pháo đang ở vị trí gốc cây ở vỉa hè bên kia đường” và bảo D đến kiểm tra. D và nam thanh niên cùng đi sang vị trí vừa chỉ và thấy có 01 bao tải xác rắn màu trắng, mở bao tải ra thì thấy bên trong có 05 vật thể hình khối hộp bọc giấy màu đỏ vàng và xanh trắng vàng in chữ nước ngoài, mỗi hộp có 36 vật hình trụ được liên kết với nhau. D nói “Em chỉ mua 03 hộp thôi” thì người này nói “OK”. D đã trả số tiền mua 03 hộp pháo hoa với giá 1.800.000đ/03 hộp, ngoài ra D còn đặt cọc thêm 700.000đ để sau này sẽ tiếp tục mua pháo thì chỉ cần trả thêm một ít nữa là đủ. Số tiền D đã đưa cho người thanh niên bán pháo tổng cộng là 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Sau khi nam thanh niên cầm tiền, D lấy 02 hộp pháo trong bao tải bỏ ra gốc cây và cầm bao tải bên trong có 03 hộp pháo hoa mang ra xe để đi về nhà, còn người thanh niên kia đi đâu thì không rõ. Sau khi mua được pháo, D điều khiển xe đến nhà anh Lê Anh T 1 ở Xóm C, xã Đ T, thành phố Vĩnh Yên và gọi T 1 ra cổng (trước đó T 1 đã nhờ D tìm mua giúp 01 hộp pháo). D chờ một lúc thì T 1 đi ra, D mở bao tải và đưa cho T 1 01 hộp pháo bọc giấy màu đỏ vàng và bảo T 1 “Kiểm tra xem có phải hàng thật không?”, T 1 cầm pháo còn D đi về nhà. Về đến nhà thì D thấy T 1 nhắn tin cho D qua ứng dụng Messenger hỏi D giá bao nhiêu và D trả lời là 1.050.000đ (Một triệu không trăm năm mười nghìn đồng). Sáng ngày 02/01/2022, T 1 đi đến nhà D và trả cho D số tiền mua pháo là 1.050.000đ rồi đi luôn. Khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, D điều khiển xe máy và mang theo 01 hộp pháo đến nhà ông Cao Kiên Đ1 ở Thôn Cuối, xã Duy Phiên, huyện T D (là cậu của D) và nói “Cháu mang quà cho cậu này” rồi D xách 01 chiếc T 1i màu đỏ bên trong có 01 hộp pháo màu xanh trắng vàng để ở gần bàn uống nước nhà ông Đ1. Ông Đ1 hỏi D giá bao nhiêu, D trả lời: “Cháu mua 600.000đ, cậu đưa cháu lúc nào thì đưa”, ông Đ1 nói: “Hôm nay cậu chưa có tiền, để vài hôm nữa cậu đưa”, D đồng ý. Sau đó D ngồi chơi thêm một lúc rồi đi về. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, người thanh niên nick Facebook “Tran Manh” liên hệ với D qua ứng dụng Messenger và hỏi D “Còn 04 hộp pháo nữa có mua không ?”. Do trước đó bạn D là anh Đỗ Xuân Nam trú tại: Thôn N M, xã T V, huyện T D nhờ D mua 02 hộp pháo nên D đồng ý mua tiếp 04 hộp pháo của người này và hẹn nhau đến cổng chung cư Bảo Quân, phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên để giao dịch mua, bán pháo. Khoảng 20 giờ cùng ngày, D điều khiển xe máy BKS: 88K1-327.52 từ nhà xuống cổng chung cư Bảo Quân, phường Khai Quang. Đến nơi D thấy có một nam thanh niên đang đứng đợi (người này không phải người bán pháo cho D ngày 01/01/2022), D đi lại gần thì người này hỏi D “Đến lấy hàng à ?”, D đáp “ừ”. Người thanh niên này chỉ cho D vị trí để pháo gần đống rác trên vỉa hè. D đi lại thì thấy có 01 bao tải xác rắn màu trắng, kiểm tra bên trong có 04 vật thể hình khối hộp bọc giấy màu đỏ vàng in chữ nước ngoài, kiểu chữ Trung Quốc, mỗi hộp có 36 vật hình trụ bằng giấy được liên kết với nhau bằng dây dẫn. Do đã thống nhất từ trước là mua 01 hộp với giá 600.000đ và đã trả trước 700.000 đồng nên D đưa cho nam thanh niên này số tiền còn lại là 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng). Người nam thanh niên này cầm tiền và bỏ đi đâu không rõ, còn D xách bao tải chứa 04 hộp pháo ra xe máy để đi về thì bị Tổ công tác của Công an thành phố Vĩnh Yên kiểm tra hành chính, phát hiện hành vi tàng trữ hàng cấm là 04 hộp pháo hoa nổ của D.

Tang vật thu giữ: 04 hộp pháo hoa nổ của Nguyễn Văn D khai nhận vừa mua được cho vào 01 vỏ thùng cattong theo đúng quy định pháp luật, ký hiệu A1; 01 xe mô tô BKS: 88K1-327.52; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S7 Prime tất cả đều đã cũ, đã qua sử dụng; 01 bao tải xác rắn màu trắng đã cũ.

Tại Kết luận giám định số 68/KLGĐ, kết luận: 04 (Bốn) khối hộp có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định đều là pháo, loại pháo nổ (pháo hoa nổ). Tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 6,773kg (Sáu phảy bảy bảy ba kilogam, không kể hộp giấy cattong niêm phong mẫu). 01(một) khối hộp có trong mẫu ký hiệu A2 gửi giám định không phải là pháo.

Tại kết luận giám định số 98/KLGĐ ngày 07/01/2022, kết luận: 01 khối hộp của mẫu ký hiệu A3 gửi giám định là pháo, loại pháo nổ (pháo hoa nổ), có khối lượng là 1,430kg (Một phảy bốn ba mươi).

Về nguồn gốc số pháo: Quá trình điều tra D khai nhận ngày 01/01/2022 mua 03 hộp pháo hoa nổ của một người nam giới không biết tên tuổi, địa chỉ, đến ngày 02/01/2022 D mua 04 hộp pháo hoa nổ của một người nam giới, không biết tên tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của D về đặc điểm nhận dạng của 02 người này thì không có chứng cứ nào khác để xác định chính xác về người đã bán số pháo nêu trên cho D nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý.

Tại Cáo trạng số 33/CT-VKSTP.VY ngày 20/3/2022,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Nguyễn Văn D về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo D khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T tại phiên tòa vắng mặt nhưng quá trình điều tra bà T khai nhận như nội dung bản cáo trạng nêu trên. Bà T đề nghị trả lại 01 chiếc xe mô tô BKS: 88K1-327.52 nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen (bút lục 162- 164).

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo Nguyễn Văn D giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội : “Buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt Nguyễn Văn D từ 15 – 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 – 36 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Nguyễn Văn D. Áp dụng khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải xác rắn màu trắng đã cũ; tịch thu bán phát mãi 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S7 Prime đã cũ; trả lại 01 xe mô tô BKS: 88K1-327.52 cho bà Nguyễn Thị T.

Bị cáo D không bào chữa, tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của các bị cáo D tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tang vâ ̣t đa thu giữ

̃, các tài liệu chứng cứ được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 02/01/2022, tại khu vực chung cư Bảo Quân thuộc Tổ dân phố Minh Quyết, phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, Tổ công tác Công an thành phố Vĩnh Yên làm nhiệm vụ phát hiện Nguyễn Văn D có hành vi tàng trữ 04 hộp pháo. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong 04 hộp pháo đúng quy định ký hiệu A1. D khai nhận mua số pháo trên để sử dụng cho bản thân và bán cho một số người quen. Trước đó, ngày 01/01/2022 D đã mua 03 hộp pháo và bán 01 hộp cho ông Cao Kiên Đ1, 01 hộp cho anh Lê Anh T 1, còn 01 hộp đang cất giấu tại nhà riêng ở Thôn N M, xã T V, huyện T D. Cơ quan Công an tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của D phát hiện và thu giữ 01 hộp pháo được niêm phong ký hiệu A2 và thu giữ của anh Lê Anh T 1 01 hộp pháo được niêm phong ký hiệu A3. Đối với 01 hộp pháo D bán cho ông Đ1 do lo sợ nên ông Đ1 đã vứt bỏ hộp pháo trên, hiện tại cơ quan Công an chưa thu giữ được. Qua giám định kết luận: 04 khối hộp được niêm phong ký hiệu A1, A3 là pháo nổ có tổng khối lượng là 8,203kg, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi đốt có gây tiếng nổ); 01 khối hộp ký hiệu A2 không phải là pháo. Số pháo trên D mua của 02 nam thanh niên lạ mặt tại phường Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên với giá 4.200.000đ để bán kiếm lời.

Hành vi buôn bán 8,203kg pháo nổ của Nguyễn Văn D đa phạm vào tộĩ “Buôn bán hàng cấm”, tô ̣i pha ̣m và hình pha ̣t được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 190 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây…thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) ..,buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam”.

Hành vi của bị cáo D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định, quản lý của Nhà nước về hàng hóa. Bị cáo nhận thức được pháo là loại hàng hóa Nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển, sử dụng nhưng bị cáo vẫn mua pháo về để bán kiếm lời. Hành vi trên đã làm ảnh hưởng tới tình hình trật tự, trị an tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu trong việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tinh tiết tăng̀ nặng, giảm nhe ̣ trách nhiê ̣m hinh sự̀

và nhân thân của người phạm tội, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n thấy:

Bị cáo phạm tội theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 5 năm nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Bị cáo D không phải chịu tình tiết tăng nặng nào và có tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo có bà Cao Thị Đ (mẹ bị cáo) là người có công với cách mạng được tặng thưởng huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000đ đến 100.000.000đ. Tuy nhiên, tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với người có liên quan và hành vi có liên quan trong vụ án:

Đối với hai người nam giới bán pháo cho D, D không biết nhân thân, lai lịch cụ thể của hai người này, Ngoài lời khai của D chưa xác định được nhân thân, lai lịch của hai người nam giới đã bán pháo cho D. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau.

Đối với anh Lê Minh T 1, quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu mua pháo hoa nổ để sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán 2022 T 1 đã nhờ D tìm mua và sau đó mua lại từ D 01 hộp pháo hoa nổ với giá 1.050.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Việc D mua 07 hộp pháo hoa nổ thì T 1 không biết, do đó không có căn cứ xử lý hình sự đối với T 1 về hành vi Buôn bán hàng cấm. Tại cơ quan điều tra, T 1 đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình và tự nguyện giao nộp 01 hộp pháo hoa nổ mua của D. Căn cứ kết luận giám định xác định hộp pháo hoa T 1 mua của Nguyễn Văn D “có khối lượng là 1,430kg”. Xác minh tại địa phương T 1 chưa có tiền án, tiền sự gì do đó không có căn cử xử lý hình sự đối với T 1 về hành vi Tàng trữ hàng cấm. Căn cứ vào điểm c, khoản 3, Điều 8 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Ngày 17/02/2022 Công an thành phố Vĩnh Yên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Lê Minh T 1 về hành vi: “Tàng trữ hàng cấm” với mức tiền phạt là: 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng), ngày 24/02/2022, T 1 đã chấp hành xong.

Đối với ông Cao Kiên Đ1, quá trình điều tra xác định: Do có nhu cầu mua pháo hoa nổ để sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán 2022 nên ông Đ1 đã nhờ D tìm mua và sau đó mua lại từ D 01 hộp pháo hoa nổ với giá 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng). Việc D mua 07 hộp pháo hoa nổ thì ông Đ1 không biết, do đó không có căn cứ xử lý hình sự đối với ông Đ1 về hành vi Buôn bán hàng cấm. Tại cơ quan điều tra, ông Đ1 đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như trên, tuy nhiên hộp pháo hoa ông Đ1 mua của D đã bị ông Đ1 vứt bỏ, Cơ quan điều tra không thu giữ được. Do đó cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với ông Đ1. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu làm rõ sẽ đề nghị xử lý sau.

Đối với bà Nguyễn Thị T, quá trình điều tra xác định: Ngày 28/12/2021 bà T mua lại chiếc xe mô tô BKS: 88K1-327.52 nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen của Nguyễn Văn D với giá 11.000.000đ. Sau khi mua xe bà T đã cho D mượn lại chiếc xe trên để đi lại trong lúc chờ mua xe mới. Việc D sử dụng chiếc xe mô tô làm phương tiện mua, bán pháo hoa nổ, bà T không biết. Do đó, cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà T.

Đối với anh Đỗ Xuân Nam là người nhờ D mua 02 hộp pháo hoa nổ, quá trình điều tra xác định D chưa nhận được tiền và chưa bán được pháo hoa nổ cho anh Nam. Do đó cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Nam.

Đối với tài khoản mạng xã hội Facebook “Tran Manh” đăng bán pháo nổ, giao dịch mua bán pháo với D qua ứng dụng tin nhắn Messenger. Quá trình điều tra, D khai nhận tìm kiếm người bán pháo trên mạng xã hội Facebook, D chỉ nhớ được tên tài khoản mạng xã hội là “Tran Manh”. Ngày 17/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại Samsung J7 Prime D sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán pháo, quá trình kiểm tra xác định: Không có cuộc gọi đi, gọi đến, tin nhắn liên quan đến nội dung mua bán pháo; kiểm tra ứng dụng Messenger trên điện thoại không đăng nhập được do D không nhớ mã xác minh, mật khẩu ứng dụng cũng như số điện thoại sử dụng để đăng nhập phần mềm. Căn cứ vào lời khai của D và kết quả kiểm tra điện thoại, Cơ quan điều tra chưa đủ cơ sở để xác định chủ tài khoản mạng xã hội “Tran Manh”. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ xử lý sau.

Về vật chứng:

Đối với 01 bao tải xác rắn màu trắng, đã qua sử dụng, quá trình điều tra xác định đây bao tải xác rắn D sử dụng để đựng 04 hộp pháo cần tịch thu tiêu hủy;

Đối với số tiền 1.050.000đ là tiền D bán pháo hoa nổ cho anh Lê Anh T 1, quá trình điều tra xác định số tiền trên sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu để sung Ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô BKS: 88K1-327.52 nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen D dùng để đi mua, bán pháo. Quá trình điều tra xác định: Chiếc xe máy BKS 88K1-327.52 đăng ký đứng tên Nguyễn Văn D. Ngày 28/12/2021 D đã bán chiếc xe mô tô này cho bà Nguyễn Thị T (chị gái D) với giá 11.000.000đ (Mười một triệu đồng). Sau khi mua xe, bà T cho D mượn lại chiếc xe mô tô trên để đi lại trong lúc chờ mua xe mới, bà T không biết D sử dụng chiếc xe mô tô trên làm phương tiện đi mua, bán pháo hoa nổ nên cần trả lại chiếc xe trên cho bà T.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động mang nhãn hiệu Samsung J7 Prime, màu đen đã qua sử dụng là tài sản của D đã sử dụng liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu bán phát mại sung vào Ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội: “Mua bán hàng cấm”;

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt Nguyễn Văn D 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn D cho Ủy ban nhân dân xã T V, huyện T D, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bao tải xác rắn màu trắng đã qua sử dụng;

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 1.050.000đ (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng);

Tịch thu bán phát mại sung Ngân sách Nhà Nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S7 Prime đã cũ của Nguyễn Văn D;

Trả lại cho bà Nguyễn Thị T 01 xe mô tô BKS: 88K1-327.52 nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen (Đặc điểm tang vật như biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/3/2022).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Cỡ chữ