vanban.org

Bản án 46/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Cư M'Gar, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 09/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cường - ĐB buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯM’GAR

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐẮKLẮK
–––––––––––––––
Bản án số:46/2020/HSST
Ngày 09-7-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐẮKLẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Cảnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Hoài B o.

2. Bà B i Thị Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn V n Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’gar.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar tham gia phiên tòa: Bà Tr n Thị M Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 n m 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh ĐắkLắk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2020/TLST-HS, ngày 22 tháng 6 n m 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2020/QĐXXST- HS, ngày 25 tháng 6 n m 2020; đối với:

* Các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn C; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày: 29/8/2000, tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn T, x Ea, huyện K, tỉnh Đ;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12;

Con ông: Nguyễn V n Thuận, sinh n m: 1969 và con bà: Phạm Thị Thuật, sinh n m: 1970. Hiện ông bà đang sinh sống và làm nông tại Thôn T, xã Ea, huyện K, tỉnh Đ.

Gia đình bị cáo c 02 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;

Bị cáo chưa c vợ con;

Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ng n chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại thôn Thôn T, x Ea, huyện K, tỉnh Đ- C m t t i phiên tòa.

2. Họ và tên: Trần Khắc P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày: 12/4/2001 tại tỉnh Đắk Lắk;

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: thôn 17, x E, huyện C, tỉnh

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;

Tôn giáo: Công giáo;

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 8/12;

Con ông: Tr n Trung Học, sinh n m: 1969 và con bà: Nguyễn Thị Lộc, sinh n m: 1976. Hiện ông bà đang sinh sống và làm nông tại thôn 17, x E, huyện C, tỉnh D.

Gia đình bị cáo c 03 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;

Bị cáo chưa c vợ con;

Tiền sự: Không; Tiền án: Không;

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ng n chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại tại thôn 17, x E, huyện C, tỉnh Đ. - Có m t t i phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn V n T, sinh n m 1969 - C m t.

Địa chỉ: Thôn T, x E, huyện K, tỉnh Đ.

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Thanh T.- V ng m t.

Địa chỉ: Buôn S, x C, huyện C, tỉnh D.

NỘI DUNG VỤ ÁN;

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 8/2019, Nguyễn V n C và Tr n Khắc P đi đám cưới tại thị x Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông thì biết 01 người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) có bán pháo. C và P c ng chung tiền để mua 03 bệ pháo loại 49 viên, với giá 900.000 đồng/ 01 bệ và 01 bệ pháo loại 36 viên với số tiền là 700.000 đồng/ 01 bệ của người đàn ông n i trên với mục đích về sử dụng vào dịp tết nguyên đán. Sau khi mua được pháo C mang về cất giữ tại nhà thuộc thôn T, x E, huyện K, tỉnh Đ. Đến khoảng tháng 01/2020, C sử dụng điện thoại lên mạng x hội Facebook thì thấy c tài khoản "L c Trôi" hỏi mua pháo của C. Sau đ , C trao đổi với Phi và cả hai thống nhất bán 04 bệ pháo trên với giá 8.000.000 đồng cho người c tài khoản Facebook "L c Trôi". Đến tối ngày 22/01/2020, C và Phi đ n xe Taxi đi đến điểm hẹn ở ng 3 công ty T, thuộc buôn S, x C, huyện Č, tỉnh Đ để giao bán pháo cho người c tài khoản Facebook "L c Trôi". Đến khoảng 00 giờ 30 phút ngày 23/01/2020, C và Phi bị tổ công tác Công an huyện ČưM'gar, tỉnh Đắk Lắk phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật gồm 03 bệ pháo loại 49 viên/01 bệ và 01 bệ pháo loại 36 viên/01 bệ.

Tại Bản kết luận giám định số 1170/C09B, ngày 05 tháng 02 n m 2020 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tất cả mẫu vật gửi giám định đều là pháo c đ y đủ đặc tính của pháo nổ, bên trong c chứa thành ph n thuốc pháo. Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 6,55kg.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CưM’gar tạm giữ:

- 03 khối hình hộp chữ nhật, c kích thước (16 x 16 x 10)cm, bên ngoài có in hoa v n nhiều màu sắc, ghi chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối c chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3cm. 01 khối hình hộp chữ nhật, kích thước (14 x 14 x 12)cm, bên ngoài c hoa v n nhiều màu sắc, ghi chữ nước ngoài, bên trong c chứa 36 ống giấy hình trụ tròn dài 12 cm, đường kính 2,3cm.

- 01 điện thoại hiệu Samsung, màn hình cảm ứng, vỏ màu đồng, số IMEI: 359752072654810/01, mặt cảm ứng của màn hình c nhiều vết nứt .

Bản cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 19/6/2020,Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đ truy tố các bị cáo Nguyễn V n C và Tr n Khắc P về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự .

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn V n C và Tr n Khắc P đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đ truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đ đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo; đồng thời giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn V n C và Tr n Khắc P như nội dung cáo trạng, đồng thời đưa ra các tình tiết giảm nhẹ đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn V n C và Tr n Khắc P phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự (BLHS).

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xử phạt bị cáo Nguyễn V n C từ 01 n m 03 tháng đến 01 n m 06 tháng tù.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 BLHS.

Xử phạt bị cáo Tr n Khắc P từ 01 n m đến 01 n m 03 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 02 n m đến 02 n m 06 tháng.

* Về xử lý vật chứng:

- Vật chứng còn lại sau giám định là: 02 khối hình hộp chữ nhật, c kích thước (16 x 16 x 10)cm, bên ngoài c in hoa v n nhiều màu sắc, ghi chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối c chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3cm.

- Tịch thu sung công qu nhà nước 01 điện thoại hiệu Samsung, màn hình cảm ứng, vỏ màu đồng, số IMEI: 359752072654810/01, mặt cảm ứng của màn hình c nhiều vết nứt của bị cáo Nguyễn V n C c liên quan đến hành vi phạm tội.

Các bị cáo không c ý kiến tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CưM’gar, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn V n C và Tr n Khắc P đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà các bị cáo đ thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar đ truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ph hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ thu thập được c trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, c đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 00 giờ 30 phút, ngày 23 tháng 01 n m 2020 tại buôn S, x C, huyện Č, tỉnh Đ, Nguyễn V n C và Tr n Khắc P vận chuyển 6,55 kg pháo c đ y đủ đặc tính của pháo nổ để bán lại cho một người c tài khoản Facebook "L c Trôi" (chưa rõ nhân thân lai lịch) nh m mục đích lấy tiền lời thì bị bắt quả tang c ng tang vật.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự và theo hướng dẫn tại Công v n số: 340/TANDTC-PC, ngày 22/12/2017 của Tòa án nhân dân tối cao về việc xử lý hành vi tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ trong nội địa thì hành vi mua bán 6,55 kg pháo nổ của các bị cáo đ đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm ” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.

* Tại Điều 190 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định t i các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị ph t tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng ho c ph t tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) …

c) …, buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;”

Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là c c n cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho x hội. Hành vi buôn bán pháo nổ của các bị cáo không những đ xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế và chế độ độc quyền trong việc quản lý pháo nổ của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương, nhất là tại thời điểm này cơ quan Nhà nước và chính quyền địa phương đang đẩy mạnh việc tuyên truyền cấm mua bán, vận chuyển, tàng trữ, đốt pháo nổ. Các bị cáo là những người c đủ n ng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo phải biết được r ng pháo nổ là mặt hàng bị Nhà nước cấm buôn bán, vận chuyển; nhưng do ý thức coi thường pháp luật, vì mục đích tư lợi cá nhân, các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi mua bán 6,55 kg pháo nổ để kiếm lời. Hành vi của các bị cáo c n phải được xử lý nghiêm khắc, kịp thời nh m mục đích để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người công dân tốt, đồng thời g p ph n r n đe và phòng ngừa chung trong toàn x hội.

Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện tội phạm mang tính đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên tính chất, vai trò của từng bị cáo là c khác nhau. Vì vậy c n thiết phải phân h a để áp dụng mức hình phạt sao cho ph hợp.

Đối với bị cáo Cường, bị cáo là người trực tiếp rủ rê bị cáo Phi tham gia vào việc mua bán pháo nổ, bị cáo là người bỏ tiền ra mua pháo nhiều hơn (bị cáo Cường 2.000.000 đồng; bị cáo Phi 1.400.000 đồng), bị cáo Cường c ng là người trực tiếp cất dấu và chủ động tìm người để bán số pháo n i trên. Vì vậy mức án đối với bị cáo C phải cao hơn bị cáo P là ph hợp.

[3] Xét về nhân thân; các bị cáo đều c nhân thân tốt, chưa c tiền án, tiền sự; phạm tội l n đ u, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đ thành khẩn khai báo, n n n hối cải, bị cáo Tr n Khắc P gia đình c công với cách mạng (ông ngo i của bị cáo được t ng Huy chư ng kháng chiến ch ng M h ng nhì). Do đ , Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 (đ i với bị cáo Cường) và điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự (đ i với bị cáo Phi) để giảm nhẹ một ph n hình phạt đối với các bị cáo nh m thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

Từ những phân tích nói trên, Hội đồng xét xử xét thấy; c n cách ly các bị cáo Cường ra khỏi đời sống x hội một thời gian nhất định, c như vậy mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và g p ph n r n đe, phòng ngừa chung trong toàn x hội.

Đối bị cáoTr n Khắc P, bị cáo c nơi cư trú rõ ràng, được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ, nên không c n thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống x hội mà cho bị cáo được cải tạo, giáo dục dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình c ng đủ để giáo dục bị cáo thành các công dân tốt.

[4] Trong vụ án này, đối với người đ bán pháo cho C và Phi tại tỉnh Đắk Nông và người sử dụng tài khoản Facebook "L c Trôi" để đặt mua pháo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện ČưM'gar đ tiến hành điều tra, xác minh nhưng hiện nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 02 khối hình hộp chữ nhật, c kích thước (16 x 16 x 10)cm, bên ngoài c in hoa v n nhiều màu sắc, ghi chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối c chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3cm.

- Tịch thu sung công qu nhà nước 01 điện thoại hiệu Samsung, màn hình cảm ứng, vỏ màu đồng, số IMEI: 359752072654810/01, mặt cảm ứng của màn hình c nhiều vết nứt của bị cáo Nguyễn V n C.

[6] Về án phí HSST: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn V n C và Tr n Khắc P phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn V n C: 01 (một) n m 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt t kể từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Tr n Khắc P : 01 (một) n m tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử 02 n m, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Kh c P cho UBND xã E, huyện C, tỉnh Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo c trách nhiệm ph i hợp cùng chính quyền địa phư ng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi n i cư trú được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo c ý vi ph m nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án c thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 02 khối hình hộp chữ nhật, c kích thước (16 x 16 x 10)cm, bên ngoài c in hoa v n nhiều màu sắc, ghi chữ nước ngoài, bên trong mỗi khối c chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10cm, đường kính 2,3cm.

- Tịch thu sung công qu nhà nước 01 điện tho i hiệu Samsung, màn hình cảm ứng, vỏ màu đồng, s IMEI: 359752072654810/01, m t cảm ứng của màn hình c nhiều vết nứt của bị cáo Nguyễn Văn C.

(Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 19/6/2020, giữa C quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư M’gar và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cư M’gar).

* Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn V n C và Tr n Khắc P mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:

Cỡ chữ