- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Bích Thủy và đồng phạm - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích T và bị cáo Nguyễn Hữu Bảo C phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2020/HS-ST Ngày: 09-4-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thế Thị Ngọc Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thắm
Ông Lê Hữu Tấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoàng An - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Minh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2020, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị Bích T; sinh năm 1974 tại tỉnh Vĩnh Long; hộ khẩu thường trú: Khóm 2, phường 3, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị N; chồng là Nguyễn Tấn T (đã ly hôn) và có 02 con sinh năm 1993 và năm 1996; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo được tại ngoại cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Hữu Bảo C; sinh năm 1973 tại tỉnh Bến Tre; hộ khẩu thường trú: Số 422 P, phường 8, quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Cẩm L (đã chết); tiền án; tiền sự: Không; bị cáo được tại ngoại cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Minh L; sinh năm 1992 tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Khu phố 5, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Phan Thị T; tiền án: Ngày 09/4/2019, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 25.000.000 đồng về tội Đánh bạc theo Bản án hình sự phúc thẩm số: 73/2019/HSPT. Đã chấp hành xong hình phạt và phần án phí ngày 17/7/2019; tiền sự: không; bị cáo được tại ngoại cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Công ty N.
Địa chỉ trụ sở chính: Thửa đất số 884, tờ bản đồ số 16, khu phố 8, phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1966; địa chỉ: Số 110 đường N, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (Văn bản ủy quyền ngày 18/02/2020); có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 11/7/2019, lực lượng Công an phường Chánh Phú Hòa và Đội Cảnh sát Hình sự Công an thị xã Bến Cát tiến hành kiểm tra hành chính cơ sở Game Bắn Cá tại đường NE8, khu phố 8, phường Chánh Phú Hòa, thị xã Bến Cát phát hiện 10 đối tượng đang tham gia đánh bạc bằng hình thức game bắn cá gồm: Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn Hữu Bảo C, Nguyễn Minh L, Nguyễn Anh T, Trần Quốc T, Võ Văn M, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Minh T, Nguyễn Minh L, Trần Văn A. Tại thời điểm kiểm tra, đối tượng Nguyễn Hữu Bảo C đang sử dụng số tiền 1.400.000 đồng để trả tiền mua điểm cho 02 đối tượng Trần Quốc T (50.000 điểm) và Võ Văn M (20.000 điểm). Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản ghi nhận vụ việc và tạm giữ:
- Tiền mặt 25.040.000 đồng, trong đó: Số tiền 7.900.000 đồng là của Nguyễn Hữu Bảo C (trong đó 1.400.000 thu giữ trên tay khi đối tượng C đang dùng mua lại điểm của đối tượng Trần Quốc T và Võ Văn M, 6.500.000 đồng trong túi quần của C). Số tiền: 6.350.000 đồng trong túi da màu đen đeo ngang hông của Nguyễn Thị Bích T; 8.000.000 đồng trong túi quần của Trần Quốc T; 410.000 đồng trong túi quần của của Nguyễn Minh L; 60.000 đồng trong túi quần của Nguyễn Minh T; 2.000.000 đồng trong túi quần của Nguyễn Minh L; 320.000 đồng trong túi quần của Trần Văn A;
- 01 máy trò chơi điện tử bắn cá màu vàng, tình trạng máy cũ đã qua sử dụng; 01 remote màu trắng; 01 thẻ từ màu xanh.
- 01 điện thoại di động Iphone X Gold màu vàng của Trần Quốc T; 01 điện thoại Iphone 7 plus màu hồng của Nguyễn Minh L; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Bích T; 01 điện thoại Iphone màu đỏ đen của Nguyễn Minh L.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM Angel 100 màu đen, số máy VMEVA2356908 không biển kiểm soát, tình trạng xe cũ đã qua sử dụng dựng trước cơ sở Game bắn cá do Nguyễn Thị Bích T trông coi.
Quá trình điều tra Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn Hữu Bảo C khai nhận: T và C là bạn bè quen biết với nhau từ năm 2013. Ngày 19/6/2019, T đến xin việc và ký hợp đồng lao động với Công ty N do ông Nguyễn Thanh H làm giám đốc. Công việc của T là trong coi tiệm Game Bắn Cá nói trên và bán điểm cho khách đến chơi với mức lương 3.000.000 đồng/tháng, H còn thỏa thuận thêm bằng lời nói với T sẽ phụ cấp thêm tiền cho T nếu tiệm game kinh doanh tốt, thu được nhiều lợi nhuận. Ngày 04/7/2019, T gọi điện thoại kêu C đến tiệm Game bắn cá làm việc cùng với T, C đồng ý. Tại đây, T và C cùng bàn bạc, phân công nhiệm vụ về việc tổ chức cho khách đến chơi Game bắn cá dưới hình thức thắng thua bằng tiền nhằm thu hút khách đến chơi và kiếm tiền thu lợi bất chính
Từ khoảng 18 giờ đến 21 giờ ngày 11/7/2019, tại cơ sở Game bắn cá do T trông coi có Nguyễn Minh L, Nguyễn Anh T, Trần Quốc T, Võ Văn M, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Minh T, Nguyễn Minh L, Trần Văn A cùng đánh bạc dưới hình thức chơi Game bắn cá thắng thua bằng tiền. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi Nguyễn Hữu Bảo C đang sử dụng số tiền 1.400.000 đồng để trả tiền mua lại điểm của đối tượng chơi Trần Quốc T (50.000 điểm tương đương 1.000.000 đồng) và Võ Văn M (20.000 điểm tương đương 400.000 đồng) thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và lập biên bản vụ việc.
Số tiền mang theo dùng để đánh bạc thắng thua của từng đối tượng đánh bạc cụ thể như sau:
- Nguyễn Anh T (vị trí 1P): Khi tham gia đánh bạc T mang theo số tiền 400.000 đồng sử dụng hết để mua 20.000 điểm để đánh. Tại thời điểm kiểm tra tại vị trí máy của T đánh có 55.750 điểm tương đương số tiền 1.115.000 đồng. Số tiền T dùng để đánh bạc là 1.115.000 đồng.
- Trần Quốc T (vị trí 2P): Khi tham gia đánh bạc T mang theo 9.600.000 đồng, T sử dụng 2.600.000 đồng để đánh bạc và để riêng ở túi quần bên phải. T sử dụng 1.600.000 đồng mua 04 lần điểm để đánh (lần thứ nhất sử dụng 200.000 đồng mua 10.000 điểm; lần thứ hai sử dụng 400.000 đồng mua 20.000 điểm; lần thứ ba sử dụng 500.000 đồng mua 25.000 điểm. Cả ba lần mua điểm này T đều đánh thua hết số điểm đã mua); lần thứ tư sử dụng 500.000 đồng mua 25.000 điểm, T thắng lại 69.850 điểm tương đương 1.397.000 đồng. Thời điểm kiểm tra T đang yêu cầu xuống 50.000 điểm để đổi lấy 1.000.000 đồng tiền mặt từ Nguyễn Hữu Bảo C thì bị lực lượng Công an kiểm tra và lập biên bản. Số tiền T dùng để đánh bạc là 2.600.000 đồng.
- Võ Văn M (vị trí 3P): Khi tham gia đánh bạc M mang theo 200.000 đồng và sử dụng hết để mua 10.000 điểm. Tại thời điểm kiểm tra, M đang có 38.160 điểm tương đương 763.200 đồng. Khi M đang đổi 20.000 điểm để lấy 400.000 đồng từ Nguyễn Hữu Bảo C thì bị lực lượng Công an kiểm tra và lập biên bản. Số tiền M dùng để đánh bạc là 763.200 đồng.
- Nguyễn Ngọc T (vị trí 4P): Khi tham gia đánh bạc Tr mang theo 200.000 đồng và sử dụng hết để mua 10.000 điểm. Tại thời điểm kiểm tra, tại vị trí máy của T còn lại 4.600 điểm tương đương số tiền 92.000 đồng. Số tiền T dùng để đánh bạc là 200.000 đồng.
- Nguyễn Minh T (vị trí 5P): Khi tham gia đánh bạc T mang theo 360.000 đồng và sử dụng hết để đánh bạc. T sử dụng 300.000 đồng để mua 15.000 điểm đánh bạc, 60.000 đồng còn lại T để trong túi quần bên phải. Tại thời điểm kiểm tra tại vị trí máy của T còn lại 0 điểm. Số tiền T dùng để đánh bạc là 360.000 đồng.
- Nguyễn Minh L (vị trí 6P): Khi tham gia đánh bạc L mang theo 610.000 đồng, sử dụng 200.000 đồng mua 10.000 điểm để đánh bạc. Tại thời điểm kiểm tra tại vị trí máy của L có 49.230 điểm tương đương số tiền 984.600 đồng. Số tiền L dùng để đánh bạc là 984.600 đồng.
- Nguyễn Minh L (vị trí 7P): Khi tham gia đánh bạc L mang theo 2.100.000 đồng, sử dụng 100.000 đồng để mua 5.000 điểm để đánh bạc. Tại thời điểm kiểm tra tại vị trí máy của L có 9.420 điểm tương đương số tiền 188.400 đồng. Số tiền L dùng để đánh bạc là 188.400 đồng.
- Trần Văn A (vị trí 8P): Khi tham gia đánh bạc A mang theo 520.000 đồng, sử dụng 200.000 đồng mua 10.000 điểm để đánh bạc. Tại thời điểm kiểm tra tại vị trí máy của A có 10.450 điểm tương đương số tiền 209.000 đồng. Số tiền A dùng để đánh bạc là 209.000 đồng.
Tổng số tiền 08 đối tượng dùng đánh bạc là: 6.420.200 đồng.
Số tiền 6.350.000 đồng để trong bóp da đeo ngang hông của Nguyễn Thị Bích T có được là do mua bán điểm cho các đối tượng chơi; Số tiền 7.900.000 đồng trên người Nguyễn Hữu Bảo C dùng để mua bán điểm của các đối tượng chơi. Tổng số tiền mà T, C sử dụng cho mục đích đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức Game bắn cá là 14.250.000 đồng.
Tổng số tiền sử dụng để tổ chức đánh bạc và đánh bạc là 20.670.200 đồng, gồm: 14.250.000 đồng của Nguyễn Thị Bích T và Nguyễn Hữu Bảo C và 6.420.200 đồng thu của bị can Nguyễn Minh L và của các đối tượng tham gia đánh bạc.
Quá trình điều tra, T và C còn khai nhận quá trình cơ sở Game hoạt động đã thu lợi bất chính từ việc tổ chức cho các đối tượng tham gia đánh bạc là 65.000.000 đồng. Số tiền này T và C đã giao lại cho nhân viên của Công ty N. Tuy nhiên, T và C đều không biết tên và nhớ rõ mặt nhân viên này vì mỗi lần nhận tiền, nhân viên Công ty N chỉ mở cửa sau xe ô tô (không rõ biển số) để cho C bỏ tiền vào. Qua làm việc và lấy lời khai ông Nguyễn Thanh H thì ông H khai nhận không có nhận được bất kỳ số tiền nào từ T và C. Vì vậy, không có đủ căn cứ để truy thu lại số tiền thu lợi bất chính nói trên.
Quá trình điều tra, Cơ quan Công an đã xác định một số tang vật thu giữ được của các đối tượng Trần Quốc T, Trần Văn A, Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn Minh L, Nguyễn Minh L không dùng để đánh bạc. Ngày 26/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát xử lý vật chứng giao trả cho Trần Quốc T 01 điện thoại di động Iphone X Gold màu vàng và số tiền 7.000.000 đồng; Trần Văn A số tiền 320.000 đồng; Nguyễn Minh L 01 điện thoại Iphone 7 plus màu hồng; Nguyễn Thị Bích T 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đã qua sử dụng; Nguyễn Minh L 01 điện thoại Iphone màu đỏ đen Model A1784FCCID;
Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKSBC ngày 09 tháng 01 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn Hữu Bảo C về tội: “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và truy tố bị cáo Nguyễn Minh L về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Bảo C từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng:
Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM Angle, số máy VMEVA2356908, xe không biển kiểm soát.
Sung ngân sách Nhà Nước số tiền dùng để đánh bạc là 20.670.400 đồng.
Trả lại cho Công ty N 01 Remote màu trắng, 01 thẻ màu xanh, 01 máy trò chơi điện tử bắn cá màu vàng, tình trạng máy cũ đã qua sử dụng.
Quản thủ số tiền 1.811.600 đồng của bị cáo Nguyễn Minh L để đảm bảo thi hành án.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Đã nhận thức được hành vi của bản thân là sai trái, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 19/6/2019, T làm việc cho Công ty N do ông Nguyễn Thanh H làm giám đốc. Công việc của T là trông coi tiệm Game Bắn Cá và bán điểm cho khách đến chơi với mức lương 3.000.000 đồng/tháng. Ngày 04/7/2019, T gọi điện thoại kêu C đến tiệm Game bắn cá làm việc cùng với T, C đồng ý. Tại đây, T và C cùng bàn bạc, phân công nhiệm vụ về việc tổ chức cho khách đến chơi Game bắn cá dưới hình thức thắng thua bằng tiền tức là mua lại điểm của người chơi nhằm thu hút khách đến chơi và kiếm tiền thu lợi bất chính.
Ngày 11/7/2019, tại cơ sở Game bắn cá do T và C trông coi có Nguyễn Minh L, Nguyễn Anh T, Trần Quốc T, Võ Văn M, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Minh T, Nguyễn Minh L, Trần Văn A cùng đánh bạc dưới hình thức chơi Game bắn cá thắng thua bằng tiền. Số tiền T dùng để đánh bạc là 1.115.000 đồng, số tiền T dùng để đánh bạc là 2.600.000 đồng, số tiền M dùng để đánh bạc là 763.200 đồng, số tiền T dùng để đánh bạc là 200.000 đồng, số tiền T dùng để đánh bạc là 360.000 đồng, số tiền L dùng để đánh bạc là 984.600 đồng, số tiền L dùng để đánh bạc là 188.400 đồng, số tiền A dùng để đánh bạc là 209.000 đồng. Tổng số tiền 08 đối tượng dùng đánh bạc là: 6.420.200 đồng.
Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi Nguyễn Hữu Bảo C đang sử dụng số tiền 1.400.000 đồng để trả tiền mua lại điểm của đối tượng chơi Trần Quốc T (50.000 điểm tương đương 1.000.000 đồng) và Võ Văn M (20.000 điểm tương đương 400.000 đồng) thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện và lập biên bản vụ việc.
Ngoài ra nguyễn Thị Bích T còn cất giữ số tiền 6.350.000 đồng để trong bóp da đeo ngang hông của T có được là do mua bán điểm cho các đối tượng chơi. Số tiền 7.900.000 đồng do Nguyễn Hữu Bảo C cất giữ trên người dùng để mua bán điểm của các đối tượng chơi. Tổng số tiền mà T, C sử dụng cho mục đích đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức Game bắn cá đối với các đối tượng chơi là 14.250.000 đồng.
Như vậy tổng số tiền dùng để đánh bạc trong cùng 01 lần là 20.672.200 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Bích T và bị cáo Nguyễn Hữu Bảo C đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với Nguyễn Minh L đã có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích. Ngày 09/4/2019 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 25.000.000 đồng về tội đánh bạc theo Bản án hình sự phúc thẩm số: 73/2019/HSPT. Đến ngày 11/7/2019 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền dùng để đánh bạc là 188.400 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Vụ án với tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo T và C cùng bàn bạc, phân công nhiệm vụ về việc tổ chức cho khách đến chơi Game bắn cá dưới hình thức thắng thua bằng tiền nhằm thu lợi bất chính. Bị cáo L tích cực tham gia vào việc đánh bạc dù đã có tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích.
Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng. Tổ chức đánh bạc và đánh bạc là tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác cho xã hội. Về nhận thức, các bị cáo hoàn toàn biết hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc là trái pháp luật nhưng các bị cáo đã cố tình thực hiện. Do vậy, cần có một hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo, đồng thời góp phần ngăn chặn tệ nạn cờ bạc đang ngày càng gia tăng tại địa phương, giữ gìn trật tự công cộng và phòng ngừa tội phạm chung.
Mức hình phạt Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với các bị cáo Nguyễn Thị Bích T và Nguyễn Hữu Bảo C là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với bị cáo Nguyễn Minh L là chưa phù hợp, chưa đủ sức giáo dục, răn đe đối với bị cáo, bởi bị cáo vừa bị xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Do dó Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo và phạt tiền bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Về biện pháp tư pháp khấu trừ thu nhập, xét thấy đã áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nên Hội đồng xét xử không cần thiết khấu trừ thu nhập đối với bị cáo L.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo được cân nhắc, xem xét khi quyết định hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Đối với Nguyễn Anh T, Trần Quốc T, Võ Văn M, Nguyễn Ngọc T, Nguyễn Minh T, Nguyễn Minh L, Trần Văn A đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.
Về xử lý vật chứng:
Cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM Angle, số máy VMEVA2356908, xe không biển kiểm soát.
Cần trả lại cho Công ty N 01 Remote màu trắng, 01 thẻ màu xanh, 01 máy trò chơi điện tử bắn cá màu vàng, tình trạng máy cũ đã qua sử dụng.
Cần sung ngân sách Nhà nước đối với số tiền dùng để đánh bạc 20.670.400 đồng.
Cần quản thủ số tiền 1.811.600 đồng của bị cáo Nguyễn Minh L để đảm bảo thi hành án.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích T và bị cáo Nguyễn Hữu Bảo C phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T 55.000.000 đồng (năm mươi lăm triệu đồng).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Bảo C 55.000.000 đồng (năm mươi lăm triệu đồng).
2. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh L phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ được tính kể từ ngày Uỷ ban nhân dân phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương nhận được bản án, quyết định thi hành án của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát.
Giao bị cáo Nguyễn Minh L cho Ủy ban nhân dân phường C, thị xã B, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo L thay đổi nơi cư trú sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 68, khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Minh L 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM Angle, số máy VMEVA2356908 (xe không biển kiểm soát, xe cũ nát, không kiểm tra được số khung).
- Trả lại cho Công ty N 01 Remote màu trắng, 01 thẻ màu xanh, 01 máy trò chơi điện tử bắn cá màu vàng, tình trạng máy cũ đã qua sử dụng (máy trầy xước vỡ nát, cửa bị bung, máy không còn hoạt động).
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát).
- Sung ngân sách Nhà Nước 20.670.400 đồng ( hai mươi triệu sáu trăm bảy mươi ngàn bốn trăm đồng).
- Quản thủ số tiền 1.811.600 đồng (một triệu tám trăm mười một ngàn sáu trăm đồng) của bị cáo Nguyễn Minh L để đảm bảo thi hành án.
(Theo giấy nộp tiền vào tài khoản các ngày 12/12/2019, 26/02/2020, 10/3/2020 của Kho bạc Nhà nước Bến Cát).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị Bích T, Nguyễn Hữu Bảo C, Nguyễn Minh L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Chi cục THA Bến Cát; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Công an thị xã Bến Cát; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, TA (01). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thế Thị Ngọc Anh |