vanban.org

Bản án 46/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146 và Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản…

[2] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị Thu N. Bà Ngô Thị Thu N được ly hôn với ông Nguyễn Cảnh. [3] Về con chung: Giao cho bà N được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Na N2, sinh ngày 04/8/2006 đến khi trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô ThịThu N -Nguyễn C"
  • Tòa quyết gì? [1] Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146 và Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản…
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY PHONG
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 46/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 30/9/2020
V/v “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN

-Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lý Văn Lấy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trọng Di

2. Ông Phạm Lê Thụy

-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Văn Hồng Lễ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện P

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P tham gia phiên tòa: Ông Lư Ngọc Quí-Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 259/2020/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 7 năm 2020 về việc: “Ly hôn, nuôi con chung ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2020/QĐST- HNGĐ ngày 14 tháng 9 năm 2020; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Thu N – sinh năm 1976; Địa chỉ: thôn 1, xã H , huyện P , tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn C – sinh năm 1977; Địa chỉ: thôn 1, xã H, huyện P, tỉnh Bình Thuận.

(Có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 15/6/2020 và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn bà Ngô Thị Thu N trình bày: Bà và ông Nguyễn Cảnh xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2001 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu thương yêu nhau, hai bên gia đình có tổ chức lễ cưới hỏi cho vợ chồng bà, đến năm 2007 vợ chồng bà có đến UBND thị trấn Ph để đăng ký kết hôn (theo giấy chứng nhận kết hôn số 156, quyển số 01/2007, ngày 03/5/2007).

Sau khi xác lập quan hệ, vợ chồng bà sống tại nhà cha mẹ bà, trong cuộc sống chung bà luôn chịu nhiều áp lực là do ông C thường xuyên tạo sự gây mâu thuẫn phát sinh nhiều vấn đề do bất đồng quan điểm và tư tưởng trong cuốc sống, ông C không quan tâm đến vợ con, kiếm chuyện ghen tuông cho rằng bà ngoại tình. Đến đầu năm 2020 ông C bỏ về nhà cha mẹ sống, từ đó vợ chồng không còn sống chung với nhau nữa cho đến nay, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến ai. Bà nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, hôn nhân đã thực sự đổ vỡ và không thể hàn gắn lại được nên bà làm đơn xin được ly hôn với ông Nguyễn C.

Về con chung: bà và ông Nguyễn C có 02 con chung: Nguyễn Thị Thu N1, sinh ngày 28/8/2001 và Nguyễn Na N2, sinh ngày 04/8/2006, hiện nay cháu N1 đủ tuổi trưởng thành, còn cháu N2 đang ở với bà, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục cháu Na đến khi trưởng thành, bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có nên không xem xét.

Về nợ chung: không có

Bị đơn ông Nguyễn C vắng mặt nên không ghi được lời khai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện P phát biểu ý kiến như sau:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự

- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.

- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:

Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn sự đã thực hiện đúng Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn không thực hiện đúng Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng không đến Tòa căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn.

- Quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 19; Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 3 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị Thu N. Bà Ngô Thị Thu N được ly hôn với ông Nguyễn C.

- Về con chung: Giao cho bà N được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Na N2, sinh ngày 04/8/2006 đến khi trưởng thành, bà N không không yêu ông C cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản và nợ chung: không có, nên không yêu cầu giải quyết.

- Về án phí: Bà Ngô Thị Thu N phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Quá trình, giải quyết vụ án, ông Nguyễn C đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt cũng như không đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Tòa án đã xác định địa chỉ của ông đúng theo địa chỉ của nguyên đơn cung cấp và tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 172; khoản 3, khoản 5 Điều 177 và Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự cho ông Nguyễn C, do ông Nguyễn C vắng mặt không có lý do đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa bà Ngô Thị Thu N và ông Nguyễn C được xác lập là hợp pháp, trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Ph, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Quá trình chung sống do ông C không quan tâm gì đến đời sống kinh tế gia đình, không có trách nhiệm với vợ con, hơn nữa còn có tính ghen tuông, bà đã cố gắng chịu đựng và khuyên ông C nhưng ông C không thay đổi bà không thể chịu đựng được nữa. Đến đầu năm 2020 bà và ông C chính thức chấm dứt quan hệ vợ chồng cho đến nay. Bà N xác nhận không còn tình cảm với ông C nữa, nên bà yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn C.

Xét thấy, bà N và ông C đã ly thân nhau một thời gian dài, từ khi ly thân nhau bà N và ông C không tự tìm phương án hòa giải để vợ chồng cùng đoàn tụ, ông C đã vi phạm nghĩa vụ đối với vợ con. Chứng tỏ cuộc sống vợ chồng giữa bà N và ông C đã thực sự đỗ vỡ, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà N.

Về con chung: Tại tòa bà N yêu cầu nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Xét thấy, từ khi bà và ông C ly thân nhau thì bà N là người trực tiếp nuôi con chung, ông C bỏ mặc con không có trách nhiệm với con cái. Chứng tỏ, ông đã vi phạm nghĩa vụ đối với các con, tại tòa bà N cam đoan sẽ lo cho các con có một sống đấy đủ về mọi mặt, đồng thời nguyện vọng của con xin được ở với mẹ, vì vậy giao cho bà N nuôi dưỡng giáo dục là phù hợp hơn. Giao con chung Nguyễn Na N2 cho bà N nuôi dưỡng, giáo dục đến khi trưởng thành; Về cấp dưỡng: Bà N không yêu cầu ông Cảnh cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: không có, nên không xem xét.

Về nợ chung: không có.

Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án, bà N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Áp dụng: khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146 và Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Ngô Thị Thu N. Bà Ngô Thị Thu N được ly hôn với ông Nguyễn Cảnh.

[3] Về con chung: Giao cho bà N được tiếp tục nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Na N2, sinh ngày 04/8/2006 đến khi trưởng thành.

Bà N không được cản trở ông Cảnh việc trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung.

[4] Về án phí: bà Ngô Thị Thu N phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc giải quyết ly hôn. Bà N đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai thu số 0007025 ngày 14/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phong, bà N đã nộp đủ án phí.

[5] Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ