vanban.org

Bản án 46/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 17/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Viết L, Đoàn Đình A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. `

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm h, s, i khoản 1 khoản 2 điều 51, điều 38, điều 17, điều 58 BLHS. Xử phạt: bị cáo Đỗ Viết L 7 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/6/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Viết L, Đoàn Đình A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. `
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LƯƠNG SƠN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 46/2019/HSST
Ngày 17/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Huyền

Ông Bùi Anh Xứng

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Văn Trung, thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Đức Đông - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 10 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 52/2019/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Viết L, Sinh ngày: 27/03/1991. Giới tính: Nam, Tên gọi khác: không. Nơi Sinh: huyện R, tỉnh P. HKTT: Thôn 9, xã H, huyện R, tỉnh P. Nơi cư trú: Văn Mỹ, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do, Trình độ văn hóa: 10/12. Con ông: Đỗ Công M, SN: 1972, con bà: Nguyễn Thị L, SN: 1972. Mẹ kế: Nguyễn Thị K, SN: 1980, Vợ: Nguyễn Thị D, SN: 1997 và 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/06/2019. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

2. Đoàn Đình Á, Sinh ngày: 04/08/1988. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không. Nơi Sinh: huyện C - thành phố Hà Nội. Trú tại: xóm G, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 09/12. Con ông: Đoàn Đình T, SN: 1964, con bà: Đỗ Thị L, SN: 1964. Vợ: Nguyễn Thị Hà, SN: 1989 và 04 con.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày: 10/06/2019 đến ngày 19/06/2019. Hiện bị cáo đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Bùi Thị Duy, sinh năm 1968

Trú tại: thôn N, xã D, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Xuân Lai, sinh năm 1959

Trú tại: thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

Anh Bùi Tiến Huỳnh, sinh năm 1983

HKTT: xóm H, xã D, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 00 ngày 10/6/2019, Đỗ Viết L, sinh năm 1991, HKTT: Thôn 9, xã H, huyện R, tỉnh P hiện đang cư trú cùng bố đẻ tại: M, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Future 33M3-5464 của ông Đỗ Xuân L, sinh năm 1959 Trú tại: thôn P, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội đến nhà Đoàn Đình A, sinh năm 1988, HKTT: xóm G, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội và rủ A đi huyện K, tỉnh Hòa Bình chơi, A đồng ý. Khi đi A là người điều khiển xe mô tô Honda Future 33M3-5464 còn L ngồi sau, cả hai đi theo đường Hồ Chí Minh đi đến ngã ba Dốc Sống rẽ vào đường xã D đi Bãi Chạo, huyện B, tỉnh Hòa Bình. Khi đi đến xóm N, xã D, huyện Lương Sơn, Hòa Bình thì L phát hiện chiếc xe mô tô Honda Dream BKS 28G1-063.25 của bà Bùi Thị D, sinh năm 1968, HKTT: Chợ N, xã D, huyện Lương Sơn, Hòa Bình dựng sát lề đường, vẫn cắm chìa khóa điện ở ổ khóa, không có người trông giữ. Lúc này, L nảy sinh ý định và rủ A lấy trộm xe, A đồng ý. A điều khiển xe quay đầu lại, quan sát không thấy ai trông giữ xe, A điều khiển xe đến gần chiếc xe mô tô BKS: 28G1-063.25, L xuống xe do A điều khiển và ngồi lên xe mô tô BKS 28G1-063.25 của bà D điều khiển đi về hướng UBND xã D, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Còn A tiếp tục đi xe về hướng B cách vị trí chiếc xe mô tô hiệu Dream khoảng 300m thì quay xe lại đi về hướng UBND xã D, huyện Lương Sơn, Hòa Bình. Khi L vừa lấy trộm được chiếc xe máy thì bà Bùi Thị D phát hiện. Cơ quan công an và quần chúng nhân dân bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật.

Tại bản Kết luận định giá tài sản ngày 16/06/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Lương Sơn kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, BKS 28G1-063.25 đã qua sử dụng bị mất trộm có giá trị tại thời điểm định giá là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

* Vật chứng vụ án:

Cơ quan điều tra thu giữ

- 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, loại bàn phím, màu đen.

- 01(một) điện thoại nhãn hiệu LAND-ROVER, màu xanh đen.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu FUTURE, màu sơn xanh, BKS: 33M3-5456, số máy: 0526178, số khung: 526151. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữa là ông Đỗ Xuân L, SN: 1959, HKTT: xã T, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, BKS: 28G1-06325, số máy: HA08E-1680779, số khung: RLHHA0808AY380986 đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Bùi Thị Duy.

Cáo trạng số 44/CT-VKSLS ngày 03/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố các bị cáo Đỗ Viết L và Đoàn Đình A về tội “trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, khẳng định lời khai trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều tự nguyện, không bị ép cung, mớm cung hoặc bị nhục hình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đỗ Viết L, Đoàn Đình A phạm tội “trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 BLHS xử phạt Đỗ Viết L về tội “Trộm cắp tài sản”mức án từ 09 đến 12 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 BLHS xử phạt Đoàn Đình A về tội “Trộm cắp tài sản” mức án từ 06 đến 09 tháng tù.

Về xử lý vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 BLHS; điều 106 bộ luật tố tụng hình sự: Trả cho bị cáo Đoàn Đình A 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, loại bàn phím, màu đen; trả lại cho bị cáo Đỗ Viết L 01(một) điện thoại nhãn hiệu LAND-ROVER, màu xanh đen.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu FUTURE, màu sơn xanh, BKS: 33M3-5456, số máy: 0526178, số khung: 526151. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Đỗ Xuân Lai, SN: 1959, HKTT: xã T, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội là có căn cứ nên không xem xét.

- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, BKS: 28G1-063.25, số máy: HA08E-1680779, số khung: RLHHA0808AY380986 đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Bùi Thị D là có căn cứ nên không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Bà Bùi Thị D đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì thêm nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên Công an huyện Lương Sơn, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định pháp luật.

Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 10 giờ 00 ngày 10/06/2019, Đỗ Viết L và Đoàn Đình A điều khiển xe mô tô BKS: 33M3 – 5464 của ông Đỗ Xuân L, sinh năm 1959 Trú tại: thôn P, xã T, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội đi chơi, trên đường đi đến đoạn đường thuộc xóm N, xã D, Lương Sơn, Hòa Bình thì L ngồi sau xe mô tô do Đoàn Đình A điều khiển phát hiện chiếc xe mô tô Honda Dream BKS: 28G1 -063.25 của bà Bùi Thị D, sinh năm 1968, HKTT: N, xã D, huyện Lương Sơn, Hòa Bình cắm chìa khóa điện dựng bên lề đường, không người trông coi. Đỗ Viết L và Đoàn Đình A đã cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô BKS: 28G1-063.25 và bị bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Trị giá tài sản chiếc xe định giá là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).

Hành vi nêu trên của các bị cáo Đỗ Viết L, Đoàn Đình A đã phạm vào tội trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, thể hiện sự coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an xã hội. Các bị cáo tuổi đời còn trẻ, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, ý thức được việc lấy tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do ham chơi, lười lao động nên thực hiện hành vi phạm tội.

Xét hành vi của các bị cáo, HĐXX xét thấy: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn. Đối với bị cáo Đỗ Viết L là người rủ Đoàn Đình A trộm cắp tài sản và là người trực tiếp lấy xe mô tô của bị hại bà Bùi Thị D. Đối với bị cáo Đoàn Đình A được bị cáo L rủ đi trộm cắp tài sản, bị cáo điều khiển xe chở bị cáo L đến chỗ lấy trộm xe mô tô, bị cáo tham gia với vai trò là người giúp sức. Do vậy, cần thiết phải xử lý các bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Đỗ Viết L, Đoàn Đình A thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân chưa có tiền án tiền sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được quy định tại điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, được HĐXX xem xét áp dụng khi lượng hình.

Về tình tiết tăng nặng đối với hai bị cáo: không có.

Đối với bị cáo Đỗ Viết L là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có cư trú không ổn định (ở nhiều địa bàn khác nhau) do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt. Đối với bị cáo Đoàn Đình A tham gia phạm tội với vai trò giúp sức, bị Đỗ Viết L rủ rê, lôi kéo. Hơn nữa, bị cáo A có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt nên xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà vẫn đảm bảo mục đích cải tạo, giáo dục đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo tuổi đời còn trẻ, không có công việc ổn định, không có tài sản riêng vì vậy HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Bà Bùi Thị D đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Vật chứng vụ án: HĐXX xét thấy

- Đối với: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, loại bàn phím, màu đen thu giữ của bị cáo Đoàn Đình A; 01(một) điện thoại nhãn hiệu LAND-ROVER, màu xanh đen thu giữ của bị cáo Đỗ Viết L, xét thấy không liên quan đến việc các bị cáo phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.

- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu FUTURE, màu sơn xanh, BKS: 33M3-5456, số máy: 0526178, số khung: 526151. Là chiếc xe bị cáo Long mượn của ông Đỗ Xuân L, sinh năm 1959, HKTT: xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Khi cho mượn ông L không biết việc L trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ nên không xem xét.

- Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu sơn nâu, BKS: 28G1-063.25, số máy: HA08E-1680779, số khung: RLHHA0808AY380986 cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu bà Bùi Thị D là có căn cứ nên không xem xét.

Hành vi khác: Đối với ông Đỗ Xuân Lai là người cho Đỗ Viết L mượn chiếc xe mô tô Honda Future 33M3-5464 vào ngày 09/06/2019 nhưng ông L không biết việc L mượn xe mô tô sử dụng vào mục đích phạm tội, nên cơ quan điều tra không xử lý hình sự đối với ông Đỗ Xuân L là có căn cứ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định theo điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Các bị cáo Đỗ Viết L, Đoàn Đình A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. `

2. Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm h, s, i khoản 1 khoản 2 điều 51, điều 38, điều 17, điều 58 BLHS.

Xử phạt: bị cáo Đỗ Viết L 7 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/6/2019.

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 điều 51, điều 65, điều 17, điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đoàn Đình A 6 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đoàn Đình A cho UBND xã Đ, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điều 47 BLHS, điều 106 BLTTHS. Trả lại cho bị cáo Đoàn Đình A 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, loại bàn phím, màu đen; trả lại cho bị cáo Đỗ Viết L 01(một) điện thoại nhãn hiệu LAND-ROVER, màu xanh đen.

(Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/9/2019 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Lương sơn, tỉnh Hòa Bình và chi cục thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình).

4. Về án phí: áp dụng điều 135, 136 bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Các bị cáo Đỗ Viết L, Đoàn Đình A mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Đỗ Viết L, Đoàn Đình A, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong cùng thời hạn trên kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ