vanban.org

Bản án 46/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 30/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án. * Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Tiên "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ M
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:46/2018/HSST.
Ngày:30-5-2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ M TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Từ Ngọc Viễn

2. Bà Nguyễn Thị Hơn

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Trúc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố M, Tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Bạch - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở TAND thành phố M, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2018/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

- Họ và tên :Trần Văn T, sinh năm 1991, tại tỉnh Long An.

- Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Ấp Gò Châu Mai, xã Khánh Hưng, huyện V, tỉnh Long An.

- Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không.

- Nghề nghiệp: Làm thuê.

- Trình độ học vấn: 8/12.

- Cha: Trần Văn Tr (đã chết).

- Mẹ: Trương Thị X, sinh năm 1943, ngụ cùng địa chị bị cáo.

- Anh, chị ruột có 08 người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình.

- Vợ: Trần Thị N, sinh năm 1987, ngụ ấp Long Trị, xã Bàn Long, huyện C, tỉnh Tiền Giang (đã ly hôn).

- Bị cáo có 01 người con sinh năm 2014.

- Tiền án, tiền sự: Không

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 11 ngày 19/01/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố M.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

- Trần Thị H sinh năm 1979, vắng mặt

Trú tại: ấp 5, xã Quới Sơn, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Chỗ ở: ấp 2, xã Trung An, thành phố M, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bị cáo Trần Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 03/01/2018, Trần Văn T đến quán cà phê 123 địa chỉ Ấp 2, xã Trung An, thành phố M của chị Trần Thị H, sinh năm 1979, ngụ Ấp 5, xã Quới Sơn, huyện C, tỉnh Bến Tre và nằm ngủ trên võng để trông coi quán dùm chị H. Đến khoảng 05 giờ ngày 04/01/2018, T thức dậy đi vệ sinh nhìn thấy chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng của chị H để trên quầy pha chế nên T lén lút đến lấy trộm đem về phòng trọ của T tại ấp Bình Tạo A, xã Trung An, thành phố M cất giấu. Sau khi phát hiện mất điện thoại, chị H cùng chồng là anh Lê Hoàng M, sinh năm 1981 (ngụ cùng địa chỉ H) đến phòng trọ tìm T và trình báo Công an xã Trung An, thành phố M triệu tập T đến điều tra làm rõ; T đã thừa nhận hành vi lấy trộm điện thoại của chị H và giao nộp vật chứng cho cơ quan Công an

Tại bản cáo trạng số 36/QĐ-VKS ngày 12/4/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố M truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Văn T, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo T từ 06 đến 09 tháng tù.

Căn cứ vào các chứ ng cứ , tài liệu đa đượ̃

c thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diê ̣n chứ ng cứ , ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai bi ̣ cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa: Khoảng 05 giờ ngày 04/01/2018 tại quán cà phê 123 địa chỉ Ấp 2, xã Trung An, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; bị cáo Trần Văn T lén lút lấy cắp chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 màu vàng của chị Trần Thị H được định giá 7.192.000 đồng. Do đó, có cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm bất hợp pháp đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho quần chúng nhân dân.Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi của bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo với xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo tỏ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: người hại Trần Thị H đã nhận lại tài sản bị mất trộm là chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 ; Diều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Trần Văn T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

* Về án phí: Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ