- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Phạm Viết C 09 (chín) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2018/HS-ST Ngày 04-10-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thúy Vân
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Hữu Kinh – Phó phòng Kinh tế thị xã Điện Bàn
2. Ông Trần Phi Long – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà, thư ký Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Phương – Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 10 năm 2018, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 38/2018/HSST ngày 01/8/2018 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Phạm Viết C - Sinh ngày 05 tháng 12 năm 1996, tại huyện N, tỉnh Quảng Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: nhân viên phụ bếp; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Viết N và bà Trần Thị Kim L; Tiền án: không; tiền sự: Ngày 03/7/2017 bị Đồn Công an khu công nghiệp Hòa Khánh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng. Khởi tố bị can ngày 18/5/2018, bị cáo hiện đang chấp hành án tại trại giam Bình Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, bị cáo có mặt tại phiên tòa
- Người bị hại: Ông Phan Văn Đ – Sinh năm: 1993; Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. (vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H – Sinh năm: 1977; Địa chỉ: Khối phố N, phường Đ, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 28/12/2017, Phạm Viết C từ Đà Nẵng đi vào Quảng Nam để tìm việc làm và đến nhà hàng Lạc Quán tại số 1010 đường Trần Hưng Đạo, thuộc khối phố Viêm Trung, phường Điện Ngọc, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam để xin vào làm nhân viên phụ bếp. Tại đây, do không có chỗ ở ổn định nên chủ nhà hàng là anh Phan Thanh N đã cho C ở lại nhà hàng cùng anh Phan Văn Đ để trông coi quán. Đêm cùng ngày, C ngủ chung với Đ, đến khoảng 05 giờ sáng ngày 29/12/2017, C thức dậy sớm, lợi dụng lúc anh Đ ngủ say, C lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1s màu vàng của anh Đ rồi bỏ đi khỏi quán tìm nơi tiêu thụ. Sau đó, C đi bộ đến cửa hàng mua bán điện thoại di động Ngọc H, do anh Trần Văn H làm chủ và bán chiếc điện thoại di động trên với giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Số tiền này C tiêu xài hết vào việc cá nhân. Trong quá trình điều tra, xác minh, Phạm Viết C đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Căn cứ Kết quả định giá tài sản số: 15/HĐ.ĐG ngày 02/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Điện Bàn xác định giá trị của 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S màu vàng, mua mới vào tháng 02/2017 đã qua sử dụng có giá trị 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Về dân sự, bị cáo Phạm Viết C chưa bồi thường điện thoại di động hiệu Oppo F1S màu vàng cho anh Phan Văn Đ, anh Đ yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
Đối với điện thoại di động Phạm Viết C bán cho anh Trần Văn H, anh Trần Văn H đã bán lại cho người khác nên không có cơ sở để thu hồi.
Bản cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 30/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, truy tố bị cáo Phạm Viết C về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 138, điểm g, p khoản 1 điều 46 BLHS năm 1999 xử phạt bị cáo Phạm Viết C từ 9 đến 12 tháng tù. Áp dụng Điều 56 BLHS năm 2015 tổng hợp Bản án của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ tài liệu, chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong bồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Điện Bàn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Điện Bàn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra bị cáo Phạm Viết C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai của người bị hại; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào rạng sáng ngày 29/12/2017 tại nhà hành Lạc Quán, phạm Viết C đã lén lút lấy trộm của anh Phan Văn Đ 01 điện thoại di động hiệu Oppo F1S màu vàng có giá trị 3.000.000 đồng. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Viết C đã đủ yếu tố cấu thành tội‚„„Trộm cắp tài sản„„ theo qui định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của Phạm Viết C đã xâm phạm đến tài sản công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trị an, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có một tiền sự: Ngày 03/7/2017 bị Đồn Công an khu công nghiệp Hòa Khánh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Về nhân thân bị cáo: Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2017 đến tháng 3/2018, Phạm Viết C đã thực hiện 05 vụ chiếm đoạt tài sản khác trên địa bàn thành phố Đà Nằng gồm: Khoảng giữa tháng 10/2017, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Wave RXS tại quán Dũng Mập thuộc phường Thanh Bình, quận H Châu, thành phố Đà Nẵng; ngày 20/11/2017, trộm cắp 01 điện thoại đi động hiệu Oppo F3 tại quán Đủng Đỉnh thuộc phường Hòa An, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng; ngày 23/01/2018, lừa đảo chiếm đoạt 01 ĐTDĐ hiệu Samsung J7 Pro tại quán Xíu Muội thuộc phường An H Đông, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng; ngày 04/02/2018, lừa đảo chiếm đoạt 01 ĐTDĐ hiệu Sony Xperia; ngày 03/3/2018 lừa đảo chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nozza, 01 túi xách màu đen, 01 cây son màu đỏ hiệu Shu, 01 cây son màu đỏ hiệu Max và số tiền 370.000 đồng tại quán bê thui Rô thuộc phường Hòa An, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Đối với các hành vi trộm cắp, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã xử phạt bị cáo 24 tháng tù giam. Đối với hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hiện nay Viện kiểm sát nhân dân quận H Châu, thành phố Đà Nẵng đang thụ lý, giải quyết. Do đó, xét tính chất và hành vi của bị cáo thì cần phải có mức án nghiêm minh và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung nhằm giáo dục bị cáo thành người công dân tốt cho xã hội. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Thiệt hại gây ra không lớn nên áp dụng điểm g, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt khi lượng hình cho bị cáo.
Đối với một điện thoại di động Oppo F1S Phạm Viết C đã bán cho ông Trần Văn H, ông H không biết đó là tài sản trộm cắp và đã bán cho người khác nên không thu hồi được và không có cơ sở xử lý đối với ông Trần Văn H.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phạm Viết C phải bồi thường giá trị chiếc điện thoại là 3.000.000 đồng cho ông Phan Văn Đ
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Phạm Viết C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, tuyên bố bị cáo Phạm Viết C phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Áp dụng Khoản 1 Điều 138; điểm g, p khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Viết C 09 (chín) tháng tù.
- Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt 02 (hai) năm tù của Bản án số 31/2018/HSST ngày 13/6/2018 của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, buộc bị cáo Phạm Viết C phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 05 tháng 3 năm 2018.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự buộc bị cáo Phạm Viết C phải có trách nhiệm bồi thường cho ông Phan Văn Đ 3.000.000 đồng.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Phạm Viết C phải chịu 200.000 đồng án phí HSST và 300.000 đồng án phí DSST.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, mà người phải thi hành án chưa thi hành số tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi, theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian và số tiền chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Nam; - Viện kiểm sát tỉnh Quảng Nam - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Những người tham gia tố tụng; - Trại giam Bình Điền, Thừa Thiên Huế. - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN Trịnh Thị Thúy Vân T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN THẨM PHÁN Trịnh Thị Thúy Vân Trịnh Thị Thúy Vân |