- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thùy N - Tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 248 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 46/2018/HS-PT Ngày: 11-6-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Huy Toàn;
Các Thẩm phán:
Ông Lê Quân Vương;
Ông Trương Văn Lộc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Cơ - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa phúc thẩm công khai xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 52/2018/TLPT-HS ngày 24 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy N. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thùy N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2018/HS-ST ngày 14/3/2018 của Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Thị Thùy N, sinh năm 1983, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 2, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận; nơi đăng ký tạm trú: Số nhà A, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 8/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; con ông Nguyễn Văn O, sinh năm 1943 và bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1949; bị cáo có chồng tên Hồ Xuân Ng, sinh năm 1978 và có 01 người con, sinh năm 2015; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 21/5/2013 bị Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương xử phạt 6.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 193/2013/HS-ST, chấp hành xong hình phạt vào ngày 16/11/2017; bị cáo tại ngoại (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Trong vụ án còn có 06 bị cáo nhưng không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 12/11/2017, Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị Thùy N, Nguyễn Thị H đến nhà Lê Thị Ng tại địa chỉ số nhà B, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương để chơi đánh bài. Ng lấy 02 bộ bài tây cho N và đồng phạm chơi bài xì dách được thua bằng tiền. Mỗi ván thắng thua từ 20.000 đồng đến 100.000 đồng, đồng thời xâu cho Ng từ 30.000 đồng đến 50.000 đồng khi kết thúc việc đánh bạc. N và đồng phạm đánh bạc đến 15 giờ cùng ngày thì có Nguyễn Thị Hồng L, Lê Ngọc T, Nguyễn Lê B và 02 người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) đến cùng tham gia. Đến 15 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phường T, thị xã D kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ: 05 bộ bài tây (trong đó có 03 bộ bài đã cũ để trong bếp nhà bị cáo Ng không sử dụng vào việc đánh bạc) và 5.900.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định được như sau:
- Nguyễn Thị Thùy N sử dụng 4.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc N thua 2.800.000 đồng, khi bắt thu giữ trong người 1.200.000 đồng.
- Nguyễn Thị S mang theo 9.275.000 đồng, sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc S thua 400.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trong người 8.875.000 đồng.
- Nguyễn Thị Hồng L sử dụng 1.900.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc L không thắng, không thua, khi bị bắt thu giữ trong người 1.900.000 đồng.
- Nguyễn Thị H sử dụng 1.200.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc H thắng 300.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trong người 1.500.000 đồng.
- Nguyễn Lê B sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc B thắng 200.000 đồng, khi bị bắt thu giữ trong người 1.200.000 đồng.
- Nguyễn Ngọc T sử dụng 600.000 đồng để đánh bạc, quá trình đánh bạc T thua hết 600.000 đồng.
- Lê Thị Ng cung cấp bài cho các bị cáo đánh bạc, mục đích là lấy tiền xâu nhưng chưa ai đưa tiền xâu cho Ng thì bị công an bắt quả tang.
Như vậy, tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 9.200.000 đồng, tiền thực tế thu được là 5.900.000 đồng.
Đối với 02 người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) tham gia đánh bạc, đã bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D, tỉnh Bình Dương tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2018/HS-ST ngày 14/3/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy N phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 248; Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 và Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009,
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thùy N 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Bản án sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Lê Thị Ng 11.000.000 đồng; các bị cáo Nguyễn Thị Hồng L, Lê Ngọc T, Nguyễn Lê B, Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị S mỗi bị cáo 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”
Ngày 26/3/2018, bị cáo Nguyễn Thị Thùy N làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo N bổ sung yêu cầu kháng cáo xin chuyển sang hình phạt tiền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa trình bày quan điểm giải quyết vụ án: Xác định tội danh, điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử và áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy N là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin chuyển sang hình phạt tiền nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo chỉ trình bày hoàn cảnh: Bị cáo có con nhỏ, con bị bệnh rối loạn giấc ngủ mà không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm dáp dụng đối với bị cáo là không nặng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thùy N lập ngày 26 tháng 3 năm 2018 được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Thùy N đã khai nhận hành vi phạm tội thống nhất như nội dung bản án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, có đủ cơ sở xác định:
Ngày 12 tháng 11 năm 2017, bị cáo Nguyễn Thị Thùy N cùng các bị cáo Lê Thị Ng, Nguyễn Thị Hồng L, Lê Ngọc T, Nguyễn Lê B, Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị S thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bài xì dách được thua bằng tiền, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 5.900.000 đồng.
Hành vi đánh bạc trái phép của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc sát phạt lẫn nhau được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện ý thức xem thường pháp luật và bất chấp hậu quả. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình theo quy định của pháp luật.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thùy N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Bị cáo Nguyễn Thị Thùy N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin chuyển sang hình phạt tiền nhưng tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Bị cáo chỉ trình bày hoàn cảnh có con nhỏ, con bị bệnh rối loạn giấc ngủ. Bị cáo đã có tiền án về tội “Đánh bạc” nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật; mức hình phạt tiền mà Tòa án nhân dân thị xã D đã áp dụng trước đây đối với bị cáo không có tác dụng giáo dục, răn đe. Do đó, mức hình phạt 03 (ba) tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đối với bị cáo là nhẹ so với hành vi đánh bạc của bị cáo nên yêu cầu kháng cáo của bị cáo là không có cơ sở chấp nhận.
[4] Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin chuyển sang hình phạt tiền của bị cáo là có căn cứ.
[5] Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Thị Thùy N phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thùy N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2018/HS-ST ngày 14/3/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Áp dụng khoản 1 Điều 248; Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 và Điều 53 của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 20009,
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thùy N 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị Thùy N phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 - TAND thị xã Dĩ An; 2 - VKSND thị xã Dĩ An; 1 - Chi cục THADS thị xã Dĩ An; 1 - Phòng PV27 - Công an tỉnh BD; 1 - Công an thị xã Dĩ An; 1 - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 2 - Trại Tạm giam – Công an tỉnh BD; - Bị cáo; 2 - Tổ Hành chính Tư pháp; 2 - Lưu: HSVA, Tòa HS. 2 THẨM PHÁN THÀNH VIÊN Trương Văn Lộc Lê Quân Vương | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Huy Toàn THẨM PHÁN CHỦ TỌA Hoàng Huy Toàn |