vanban.org

Bản án 457/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 23/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo N.X.T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”

Nghị quyết 326/216/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội năm 2016: Xử phạt N.X.T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2026. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán hàng cấm - sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo N.X.T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 457/2026/HS-ST
Ngày: 23/7/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thu Phương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nghiêm Quốc Tuấn

2. Ông Phạm Bá Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1- Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 07 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 353/2026/TLST-HS ngày 29 tháng 05 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 757/2026/QĐXX-HS ngày 06 tháng 07 năm 2026 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: N.X.T; sinh năm 1990; Nơi cư trú: Khu phố H, phường H, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Bố là: N.V.T (đã chết); Mẹ là: P.T.C (đã chết); Vợ là: Đ.T.T, sinh năm 1998; có 2 con: lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2023.

Nhân thân: 03 tiền án (đã xóa án tích)

+ Tại Bản án số 28/HSST ngày 18/6/2007, Toà án nhân dân huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Ra trại ngày 11/7/2008. (Đã xóa án tích).

+ Tại Bản án số 47/HSST ngày 04/12/2009, Toà án nhân dân huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 54 tháng tù về tội “Cướp tài sản”. Ra trại ngày 11/6/2013. (Đã xóa án tích).

+ Tại Bản án số 14/HSST ngày 08/4/2014, Toà án nhân dân huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ra trại ngày 22/6/2019. (Đã xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/3/2026. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an TP. Hà Nội.

(Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 25 phút ngày 06/3/2026, tổ công tác Công an phường G trong lúc làm nhiệm vụ tại khu vực đầu ngõ N, phố Đ, phường G, thành phố Hà Nội thì phát hiện N.X.T có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện 01 túi nilon bên trong có 01 thùng các tông, bên trong thùng các tông có 05 khối hình hộp dán giấy nhiều màu sắc, có ghi chữ nước ngoài, T khai nhận là pháo nổ (pháo hoa nổ) được T mua về mục đích để bán kiếm lời.

Quá trình điều tra xác định : Khoảng đầu tháng 3/2026, qua mạng xã hội Facebook T có quen biết với người sử dụng tài khoản Facebook “D công trình”, qua đó “D công trình” bàn bạc với T về việc mua pháo nổ với giá 1.000.000 đồng/01 giàn và bán lại kiếm lời chia đôi. Do T không có tiền nên “D” đã chuyển khoản số tiền 500.000 đồng từ tài khoản số 122081xxxx của N.V.C tại ngân hàng BIDV đến tài khoản số 1903544352xxxx của T tại ngân hàng Techcombank để T bắt xe xuống Hà Nội mua hàng. Khoảng 7 giờ 00 phút ngày 06/3/2026, T bắt xe khách đi từ Quảng Ninh đến Hà Nội. T bắt xe ôm đến ngõ N, phố Đ, phường G và thuê nhà nghỉ A để ở. Tại đây “D” đã chuyển khoản số tiền 500.000 đồng để thanh toán tiền nhà nghỉ và hẹn khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày sẽ qua địa chỉ trên đón T đi ăn. Đến khoảng 11 giờ 00 phút, “D” nhắn tin bảo T gửi số điện thoại để nhận hàng là giàn pháo nổ (pháo hoa nổ) và cất giữ khi có khách cần thì mang đi bán. Một lúc sau thì có số điện thoại 0976.114.xxx gọi điện cho T xuống để nhận hàng. T xuống nhận hàng từ một người đàn ông (không quen biết) một thùng các – tông bên ngoài được bọc nilong màu đen là pháo hoa nổ. T trả phòng nhà nghỉ xong và mang số pháo hoa nổ trên đi ra đầu ngõ N, phố Đ, mục đích đi đón “D” để cùng đi bán thì bị tổ công tác Công an phường G kiểm tra hành chính. T đã đầu thú và tự nguyện giao nộp số pháo trên. T khai nhận nếu bán trót lọt số pháo trên được tổng số tiền 8.000.000 đồng trong đó tiền gốc là 5.000.000 đồng và tiền lãi là 3.000.000 đồng chia đôi thì mỗi người được hưởng lợi 1.500.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) thùng các tông bên ngoài bọc nilon màu đen, bên trong chứa 05 (năm) khối hình hộp kích thước khoảng 16x13,5x15 cm dán giấy nhiều màu sắc, có ghi chữ nước ngoài;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31 màu xanh, đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 8793/KL-KTHS ngày 13/3/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: 05 khối hình hộp kích thước mỗi khối (16x13,5x15) cm được dán giấy nhiều màu sắc, có ghi chữ nước ngoài, tổng khối lượng 7,581 kg đều là Pháo hoa nổ.

Đối với tài khoản Facebook “D công trình”, Cục phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch đã có văn bản trả lời về việc xác minh đối với tài khoản, kết quả: Mạng xã hội Facebook thuộc sở hữu của Công ty Meta (Meta Platforms, Inc) có trụ sở tại Hoa Kỳ. Hiện tại, mạng xã hội Facebook chưa có hiện diện pháp lý tại Việt Nam, chỉ hoạt động cung cấp thông tin công cộng xuyên biên giới vào Việt Nam. Các nền tảng (Facebook và Telegram) đều có chính sách bảo mật thông tin người dùng (như: tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ, email, số điện thoại, tin nhắn, cuộc gọi…). Cục PTTH&TTĐT không có thông tin, dữ liệu và không có biện pháp kỹ thuật phù hợp để xác định thông tin các tài khoản Facebook và Telegram nêu trên để cung cấp theo yêu cầu.

Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác định người đàn ông đã giao thùng pháo hoa nổ cho N.X.T, kết quả là anh M.H.T (sinh năm 1972; Địa chỉ: ngõ B, phố H, phường Đ, thành phố Hà Nội). Anh T làm nghề xe ôm và giao hàng tự do. Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 06/3/2026, Anh T được một người đàn ông (không quen biết) thuê chở hàng giao cho N.X.T với giá 20.000 đồng. Anh T không biết đồ vật bên trong thùng các tông là gì và không có mối quan hệ với “D” và T. Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh M.H.T là có căn cứ.

Đối với tài khoản số 122081xxxx mang tên N.V.C tại ngân hàng BIDV và tài khoản số 059100029xxxx của chị P.T.T.H tại ngân hàng Vietcombank, Cơ quan điều tra đã xác minh chủ tài khoản là anh N.V.C (sinh năm 1990) và chị P.T.T.H (sinh năm 1993; Địa chỉ: phố T, xã N, tỉnh Hưng Yên). Anh C và chị H là vợ chồng và mở cửa hàng kinh doanh điện thoại “C mobile” tại phố T, xã N, tỉnh Hưng Yên. Anh C nhận chuyển khoản tiền hộ khi có khách đến nhờ và nhận tiền mặt. Chị H đã ủy quyền cho Anh C sử dụng và quản lý tài khoản của mình. Ngày 05/3/2026, một người đàn ông (không quen biết) đến cửa hàng nhờ Anh C chuyển khoản số tiền 500.000 đồng và đưa lại tiền mặt. Anh C đã dùng tài khoản số 122081xxxx của mình tại ngân hàng BIDV để chuyển tiền đến tài khoản số 1903544352xxxx của N.X.T tại ngân hàng Techcombank. Ngày 06/3/2026, người đàn ông đó tiếp tục đến nhờ Anh C chuyển khoản số tiền 500.000 đồng. Anh C và chị Hương không quen biết và có mối quan hệ gì với N.X.T và người đàn ông nhờ chuyển tiền hộ. Do đó, Cơ quan điều tra không xử lý với Anh C và chị H là có căn cứ.

Tại bản Cáo trạng số 151/CT-VKS ngày 20/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội đã truy tố bị cáo N.X.T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: xử phạt N.X.T từ 14-18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31 màu xanh, đã qua sử dụng; Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thùng các tông bên ngoài bọc nilon màu đen, bên trong chứa 05 (năm) khối hình hộp kích thước khoảng 16x13,5x15 cm dán giấy nhiều màu sắc có ghi chữ nước ngoài.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 25 phút ngày 06/3/2026, tại khu vực đầu ngõ N, phố Đ, phường G, thành phố Hà Nội, N.X.T đã có hành vi mua 7,581 kg pháo hoa nổ (là loại hàng hóa bị cấm mua bán trái phép) nhằm mục đích bán để kiếm lời thì bị bắt cùng vật chứng.

Hành vi của bị cáo N.X.T đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh lưu thông loại hàng hóa bị cấm, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Pháp hoa nổ là mặt hàng bị Nhà nước nghiêm cấm tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép do có khả năng gây cháy nổ, ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của con người, gây thiệt hại về tài sản, đồng thời làm mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì ham lợi nhuận nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo đã có 3 tiền án, mặc dù đều đã được xóa án tích nhưng được xác định là có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; đã đầu thú khai nhận hành vi phạm tội. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về vật chứng:

+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31 màu xanh đã thu giữ của bị cáo do có liên quan đến hành vi phạm tội.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thùng các tông bên ngoài bọc nilon màu đen, bên trong chứa 05 (năm) khối hình hộp kích thước khoảng 16x13,5x15 cm dán giấy nhiều màu sắc, có ghi chữ nước ngoài.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo N.X.T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”

Căn cứ vào: - Điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Điều 106; Điều 229; Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Nghị quyết 326/216/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội năm 2016:

+ Xử phạt N.X.T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2026.

* Về vật chứng:

+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A31 màu xanh, đã qua sử dụng. Vật chứng hiện đang lưu giữ tại phòng thi hành án dân sự Khu vực 1 – Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng số 428 ngày 26/5/2026.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) thùng các tông bên ngoài bọc nilon màu đen, bên trong chứa 05 (năm) khối hình hộp kích thước khoảng 16x13,5x15 cm dán giấy nhiều màu sắc, có ghi chữ nước ngoài. Vật chứng hiện lưu kho vật chứng của cơ quan điều tra Công an thành phố Hà nội.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo N.X.T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ