vanban.org

Bản án 45/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thị Hiền Trâm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG
NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2025/HS-ST
Ngày 17-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đào Kim Kinh

2. Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Kim Chi, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu H - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 41/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Thị Hiền T, sinh ngày 19 tháng 02 năm 1970 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Số I đường T, tổ F, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Ngọc A (chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1949; có chồng là ông Hồ Ngọc Q, sinh năm 1970; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1990 và nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2025 đến ngày 26/01/2025 hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/01/2025 đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Ngọc Q, sinh năm 1970, nơi cư trú: Số I đường T, tổ F, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Thị Hiền T là người kinh doanh dịch vụ Karaoke tại địa chỉ số I đường T, tổ F, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Vào tháng 12/2024, nhận thấy người dân có nhu cầu sử dụng pháo hoa nổ vào dịp Tết Nguyên đán, T đã nảy sinh ý định mua pháo hoa nổ để bán kiếm lời. T sử dụng mạng xã hội Facebook liên hệ với 01 tài khoản (không xác định được tên tài khoản) có đăng bán pháo hoa nổ đặt mua 02 lần, lần đầu là 10 hộp và lần sau là 12 hộp, tổng cộng là 22 hộp pháo hoa nổ với giá 1.000.000 đồng/hộp, với tổng số tiền là 22.000.000 đồng. Sau khi đặt hàng thì khoảng từ 05 đến 06 ngày có một người thanh niên (không xác định nhân thân, lai lịch) chở bằng xe máy giao pháo hoa nổ đến nhà của T tại địa chỉ số I T, phường N, thành phố Q, T nhận hàng và trả tiền mua pháo bằng tiền mặt.

Sau khi mua pháo hoa nổ, T đem cất giấu trong hộc giường đặt trong phòng ngủ của mình tại số nhà I đường T, phường N, thành phố Q để gần Tết nguyên đán năm 2025 bán lại kiếm lời. Đồng thời, để bán được pháo hoa, trong quá trình kinh doanh dịch vụ Karaoke, T có nói với khách hàng là có bán pháo hoa, ai có nhu cầu sử dụng thì liên hệ T để mua.

Sáng ngày 21/01/2025, vào lúc 10 giờ 20 phút, có người thanh niên lạ mặt (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đến nhà của T tại số I đường T, phường N, thành phố Q để hỏi mua 04 hộp pháo hoa nổ, T nói với người thanh niên là bán với giá 1.300.000 đồng/hộp, tổng số tiền là 5.200.000 đồng và người thanh niên đồng ý mua nên T vào phòng ngủ lấy 04 hộp pháo hoa nổ (bên ngoài có chữ “T4049”) bỏ vào thùng giấy bên ngoài có chữ “Thạch Bích” đem ra ngoài để bán cho người thanh niên nhưng chưa kịp bán thì bị thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q bắt quả tang. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q phát hiện và thu giữ trong hộc giường tại phòng ngủ của bị cáo T 18 hộp pháo nổ, bên ngoài ghi dòng chữ “KS4-49AB”.

Theo Kết luận giám định số 87/KL-KTHS ngày 24/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: 04 hộp giấy bên ngoài có chữ “T4049” đã được niêm phong gửi giám định là pháo hoa; loại: Pháo hoa nổ, khối lượng là 07kg; 18 hộp giấy bên ngoài có chữ “KS4-49AB” đã được niêm phong gửi giám định là pháo hoa; loại: Pháo hoa nổ, khối lượng là 30,5kg. Tổng khối lượng pháo hoa nổ bên trong 02 thùng giấy gửi giám định là 37,5kg.

Pháo nổ và pháo hoa nổ được quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 3, Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ về quản lý, sử dụng pháo.

Cáo trạng số 15/CT-VKSTPQN ngày 17/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Bùi Thị Hiền T về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Thị Hiền T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Thị Hiền T từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu và tiêu hủy số pháo hoa nổ còn lại sau giám định là 32,6kg.

Trả lại cho bị cáo Bùi Thị Hiền T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu vàng, số máy MT5C2LL/A, số sê ri: FK1XK9WCKPHF, thẻ sim không xác định và 01 (một) điện thoại Iphone 14 Plus màu xanh, số máy MQ423LL/A, số sê ri CY30PQYCV2.

Tạm giữ số tiền 5.200.000 đồng của bị cáo Bùi Thị Hiền T để bảo đảm thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Những tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Vì muốn thu lợi bất chính từ việc mua bán pháo hoa nổ nên Bùi Thị Hiền T đã đặt mua pháo hoa nổ về bán kiếm lời. T sử dụng mạng xã hội Facebook đặt mua 02 lần, 22 hộp pháo hoa nổ với số tiền 22.000.000 đồng đem về cất giấu trong hộc giường đặt trong phòng ngủ của mình tại số nhà I đường T, phường N, thành phố Q. Vào lúc 10 giờ 20 phút ngày 21/01/2025, T bán 04 hộp pháo hoa nổ với số tiền 1.300.000 đồng/hộp, tổng số tiền là 5.200.000 đồng cho một thanh niên (không rỏ nhân thân lai lịch) nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q bắt quả tang. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T, Cơ quan điều tra thu giữ 18 hộp pháo hoa nổ còn lại trong hộc giường tại phòng ngủ của T. Tổng khối lượng pháo hoa nổ thu giữ của T là 37,5kg.

Điểm a khoản 1 Điều 3 Nghị định số 137/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định: Pháo nổ là sản phẩm được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, khi có tác động của xung kích thích cơ, nhiệt, hóa hoặc điện gây ra tiếng nổ hoặc gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng màu sắc trong không gian; Pháo nổ gây ra tiếng rít, tiếng nổ và hiệu ứng màu sắc trong không gian được gọi là pháo hoa nổ. Như vậy, theo định nghĩa nêu trên thì pháo hoa nổ là pháo nổ nên hành vi của bị cáo Bùi Thị Hiền T đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Bùi Thị Hiền T về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T tặng giấy khen đã có thành tích trong thực hiện gương người tốt, việc tốt nhặt được của rơi trả lại cho người mất. Bị cáo có ông ngoại là ông Nguyễn L1 được Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhất, cậu ruột là ông Nguyễn Hữu L2 được Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hạng ba. Ngoài ra, bị cáo tự nguyện nộp số tiền 5.200.000 đồng để bảo đảm cho việc thi hành án nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã gây ra. Tại phiên tòa bị cáo trình bày đây là lần đầu bị cáo mua pháo hoa nổ về bán để kiếm lời nên bị cáo không biết là hành vi của mình phải chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo rất hối hận về hành vi mua bán pháo hoa nổ nên dù chưa bán được 04 hộp pháo hoa nổ cho người thanh niên lạ mặt nhưng bị cáo mong muốn được khắc phục hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra nên sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi thì vào ngày 10/4/2025 bị cáo tự nguyện nộp số tiền 5.200.000 đồng tại Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Q. Bị cáo mong muốn Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội đi làm kiếm tiền khắc phục hậu quả đối với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và phòng ngừa chung loại tội phạm này.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu và tiêu hủy số pháo hoa nổ còn lại sau giám định là 32,6kg.

Trả lại cho bị cáo Bùi Thị Hiền T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu vàng, số máy MT5C2LL/A, số sê ri: FK1XK9WCKPHF, thẻ sim không xác định và 01 (một) điện thoại Iphone 14 Plus màu xanh, số máy MQ423LL/A, số sê ri CY30PQYCV2.

Số tiền 5.200.000 đồng của bị cáo T nộp tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Đối với đối tượng bán bán 22 hộp pháo hoa nổ cho bị cáo T, trong quá trình điều tra, bị cáo T khai không biết nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q sẽ xác minh làm rõ và xử lý sau.

Đối với đối tượng mua 04 hộp pháo hoa nổ từ bị cáo T, bị cáo không biết nhân thân lại lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q không có cơ sở để xác minh, làm việc.

Đối với ông Hồ Ngọc Q: Ông Q không biết việc bị cáo T cất dấu số pháo hoa nổ và buôn bán số pháo hoa nổ nêu trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự đối với ông Q là phù hợp.

Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Thị Hiền T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về tội danh có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử; về hình phạt chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Hiền T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 50, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị Hiền T 110.000.000 đồng (một trăm mười triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy số pháo hoa nổ còn lại sau giám định là 32,6kg.

Trả lại cho bị cáo Bùi Thị Hiền T 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max màu vàng, số máy MT5C2LL/A, số sê ri: FK1XK9WCKPHF, thẻ sim không xác định và 01 (một) điện thoại Iphone 14 Plus màu xanh, số máy MQ423LL/A, số sê ri CY30PQYCV2.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 02-BBBG ngày 26/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q với Đại đội Kho vũ khí-đạn, Phòng Hậu cần-Kỹ thuật, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Q. Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi).

Tạm giữ số tiền 5.200.000 đồng (năm triệu hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Bùi Thị Hiền T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003299 ngày 10/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi để bảo đảm thi hành án.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Thị Hiền T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ