- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Thanh T phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý" - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2025/HS-PT Ngày: 19-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân
Các Thẩm phán: Ông Trần Bá Nguyên
Ông Ung Quang Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Khánh Nhi là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai và điểm cầu thành phần Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh G xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 46/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo Huỳnh Thanh T do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thanh T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 22/2025/HS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định (Nay là Toà án nhân dân khu vực 3, tỉnh Gia Lai).
- Bị cáo có kháng cáo:
Huỳnh Thanh T, sinh ngày 14/7/1996 tại tỉnh Bình Định (Nay là tỉnh Gia Lai); nơi ĐKHKTT: Khu phố T, thị trấn C, huyện P, tỉnh Bình Định (Nay là Khu phố T, xã C, tỉnh Gia Lai); Nghề nghiệp: Thợ thạch cao; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Thanh D, sinh năm 1974 và bà: Đoàn Thị H, sinh năm 1976; Vợ: Đỗ Thị Thúy P, sinh năm: 1998; Con: có 01 người con sinh năm: 2023; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/01/2025. Bị cáo có mặt tại phiên toà .
Ngoài ra còn có 03 bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy và có tiền tiêu xài cá nhân, ngày 01/01/2025 Bùi Trương N, (sinh năm 1998, ở thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định) liên hệ một người tên L (chưa rõ lai lịch) ở thành phố Q, tỉnh Bình Định mua 4.500.000 đồng ma túy đá, sau đó N đem ma túy đến H1 “Nhà của Ba” đã thuê lưu trú trước đó của anh Ngô Thanh T1 (sinh năm 1990, ở khu phố T, thị trấn C, huyện P) chia nhỏ ma túy để bán và lấy một ít ma túy đá để sử dụng; N đã 02 lần bán ma túy cho Nguyễn Viết V (sinh năm 1978, ở khu phố T, thị trấn C, P) vào ngày 02/01/2025 số tiền 3.200.000 đồng ma túy đá, thu lợi 300.000 đồng và ngày 06/01/2025 số tiền 1.100.000 đồng ma túy đá, thu lợi 100.000 đồng. Cả 02 lần bán ma túy này, Nam đều giao ma túy cho V tại đường bê tông gần chợ C1, thuộc xã C, huyện P và V chuyển khoản cho N để trả tiền mua ma túy. Sau khi bán cho V, Bùi Trương N còn lại 02 gói ma tuý nhỏ, trong đó 01 gói ma tuý Nam để riêng ai hỏi thì bán, gói ma tuý còn lại N xé đổ vào bộ dụng cụ và sử dụng trái phép chất ma tuý một mình tại phòng thuê H1 vào tối ngày 07/01/2025.
Nguyễn Viết V sau khi mua ma tuý từ Bùi Trương N về chủ yếu dùng vào mục đích sử dụng trái phép chất ma tuý cho bản thân. Đến chiều ngày 06/01/2025 do có quen biết nên khi Huỳnh Thanh T (sinh năm 1996, ở khu phố T, thị trấn C) liên hệ hỏi mua 800.000 đồng ma túy, V đồng ý và hẹn đến quán cà phê Anh Đ ở gần nhà V để giao ma túy; Việc mua ma tuý này là do trên đường cùng nhau đi làm về, Đoàn Trần Nhơn T2 (sinh năm 1995, ở khu phố T, thị trấn C - là anh em họ với T) khởi xướng góp tiền với T mua ma tuý về cùng sử dụng, T ứng tiền ra mua ma túy trước khi nào nhận lương T2 trả tiền lại sau. Do đó, T chuyển khoản trước cho Nguyễn Viết V 700.000 đồng mua ma tuý rồi cả hai đến quán cà phê Anh Đ đợi. Lát sau, V mang gói mang tuý đá giấu trong khẩu trang đến quán cà phê Anh Đ đưa cho T và nói chỉ còn “01 cái năm” ma túy đá giá 500.000 đồng, số tiền 200.000 đồng Vũ trừ nợ do T mượn trước đó. Sau khi nhận được ma túy, T và T2 về nhà T ở khu phố P, thị trấn C để sử dụng ma túy. Cả hai vào phòng buồng ngồi xuống sàn nhà, T đổ ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy của T2 mang đến lúc sáng cùng ngày, sau đó cả hai cùng sử dụng hết số ma túy trên. Sáng ngày 07/01/2025 Công an thị trấn C mời Đoàn Trần Nhơn T2 làm việc, phát hiện T2 dương tính với ma túy. Lúc này T thấy T2 không đi làm nên tìm hiểu thì biết T2 bị Công an mời làm việc nên Tàu lấy nỏ thủy tinh, ống hút nhựa gắn trên nắp chai nước (nhưng để lại chai nước tại phòng của T) đi vào thành phố Q rồi ném tất cả xuống cầu S thuộc khu vực 3, phường N, thành phố Q.
Quá trình làm việc, T và T2 đều khai nhận hành vi mua ma tuý từ Nguyễn Viết V về cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Nguyễn Viết V thừa nhận mua ma tuý từ Bùi Trương N về chủ yếu sử dụng cho bản thân và có bán lại cho Huỳnh Thanh T vào ngày 06/01/2025.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Trương N tại H “Nhà của Ba” ở khu phố T, thị trấn C, huyện P vào hồi 08 giờ ngày 08/01/2025, phát hiện:
- 01 (một) gói nilon kích thước (3x1,5)cm bên trong bám dính các hạt tinh thể ma túy;
- 01 (một) chai nhựa có kích thước (8,5x5,5)cm, nắp chai màu trắng, đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đen, kích thước (6,3x0,6)cm; 01 lỗ gắn 01 (một) nỏ thủy tinh kích thước (14x4)cm, bên trong nỏ có bám dính chất ma túy;
- 01 (một) kéo kim loại kích thước (8,8x4,4)cm;
- 01 (một) đoạn ống hút nhựa kích thước (9x0,6)cm;
Bùi Trương N khai nhận gói nilon chứa các hạt tinh thể trên là ma túy đá của N dùng để bán kiếm lời. Các dụng cụ còn lại phục vụ việc N chia nhỏ ma túy để bán và sử dụng ma túy.
Kết quả xét nghiệm ma túy đối với nước tiểu của Huỳnh Thanh T, Đoàn Trần Nhơn T2, Nguyễn Viết V, Bùi Trương N đều dương tính với ma túy, loại Methamphetamine.
Bản kết luận giám định số: 24/KL-KTHS ngày 16/01/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh B giám định đối với các mẫu vật thu được tại phòng ở của Bùi Trương N tại H “Nhà của Ba”, kết luận:
- Các hạt tinh thể màu trắng đựng bên trong 01 (một) gói nilon kích thước (3x1,5)cm gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1433 gam, là loại: Methamphetamine;
- Chất rắn màu nâu bám dính bên trong 01 (một) nỏ thủy tinh kích thước (14x4)cm gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0665 gam, là loại: Methamphetamine.
* Vật chứng:
Tạm giữ và chuyển giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Cát bảo quản gồm:
- 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3A 104158; 01 (một) gói nilon kích thước (3x1,5)cm; 01 (một) nỏ thủy tinh kích thước (14x4)cm và 0,1732 gam methamphetamine còn lại sau giám định. Tất cả được niêm phong trong 01 (một) bì thư có kích thước (25x18)cm dán kín niêm phong: dấu tròn Phòng KTHS Công an tỉnh B, chữ ký của: Nguyễn Thị Bích H2; Ngô Thanh C; Lê Thanh T3. Trên bì thư ghi in dòng chữ: “Công an tỉnh B; số 24/KL-KTHS”; “H3 lại đối tượng giám định: 01 (một) túi niêm phong ký hiệu PS3, mã số PS3A 104158; 01 (một) gói nilon kích thước (3x1,5)cm; 01 (một) nỏ thủy tinh kích thước (14x4)cm; 0,1205 gam mẫu A1 và 0,0527 gam mẫu A2 còn lại sau giám định”;
- 01 (một) chai nhựa có kích thước (8,5x5,5)cm, nắp chai màu trắng, đục 02 lỗ tròn, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu đen, kích thước (6,3x0,6)cm;
- 01 (một) kéo kim loại kích thước (8,8x4,4)cm;
- 01 (một) đoạn ống hút nhựa kích thước (9x0,6)cm;
- 01 (một) chai nước, hiệu “Number 1”, kích thước (19x6), thân chai bị co móp;
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định (Nay là Toà án nhân dân khu vực 3, tỉnh Gia Lai) đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Bùi Trương N, Nguyễn Viết V phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Đoàn Trần Nhơn T2, Huỳnh Thanh T phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Huỳnh Thanh T, xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 09 tháng 01 năm 2025.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Bùi Trương N 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Nguyễn Viết V 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Đoàn Trần Nhơn T2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 06/6/2025 bị cáo Huỳnh Thanh T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thanh T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định (Nay là Toà án nhân dân khu vực 3, tỉnh Gia Lai).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau: Vì cần tiền tiêu xài cá nhân và có ma túy để sử dụng nên từ ngày 01/01/2025 đến ngày 06/01/2025, Bùi Trương N đã mua ma túy loại Methamphetamine về sử dụng và 02 lần bán bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Viết V vào ngày 02/01/2025 và ngày 06/01/2025 thu được 4.300.000 đồng. Sau khi mua ma tuý của N, Nguyễn Viết V sử dụng và bán lại một lần gói ma tuý cho Huỳnh Thanh T thu được 500.000 đồng.
Do có nhu cầu cùng sử dụng trái phép chất ma túy, Đoàn Trần Nhơn T2 đã có hành vi khởi xướng, mang bộ dụng cụ sử dụng ma tuý cùng với Huỳnh Thanh T góp tiền đặt mua ma tuý của Nguyễn Viết V rồi cùng nhau sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà của T ở khu phố P, thị trấn C, huyện P vào chiều tối ngày 06/01/2025. Do đó, Toà án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định (Nay là Toà án nhân dân khu vực 3, tỉnh Gia Lai) đã kết án bị cáo Bùi Trương N về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Viết V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Đoàn Trần Nhơn T2, Huỳnh Thanh T về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng pháp luật. [2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Huỳnh Thanh T, hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo Huỳnh Thanh T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận biết ma tuý là chất gây nghiện độc hại mà nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sử dụng, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý, nhưng chỉ vì ham chơi đua đòi mà bị cáo đã trực tiếp mua ma tuý và sử dụng nhà của mình để cùng bị cáo Đoàn Trần Nhơn T2 tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Bị cáo Đoàn Trần Nhơn T2 là người khởi xướng, rủ rê và cung cấp dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma tuý, còn bị cáo Huỳnh Thanh T là người ứng tiền ra và liên hệ V để mua ma tuý về cùng sử dụng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo T chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T 02 năm 06 tháng tù, ngang bằng với bị cáo Đoàn Trần Nhơn T2 là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo gây ra. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm chứng cứ nào khác để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thanh T, giữ nguyên hình phạt bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.
Về án phí HSPT: Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Huỳnh Thanh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thanh T. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định (Nay là Toà án nhân dân khu vực 3, tỉnh Gia Lai) là phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Thanh T.
- Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2025/HS-ST ngày 26 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định (Nay là Toà án nhân dân khu vực 3, tỉnh Gia Lai).
2. Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 09 tháng 01 năm 2025.
3. Về án phí: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Huỳnh Thanh T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1.TANDTC; - VKSND tỉnh Gia Lai; - Trại tạm giam số 2 CA tỉnh Gia Lai; - TA, VKS khu vực 3 – Gia Lai; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai; - Phòng THADS khu vực 3; - Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoài Xuân |