- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Dương C cùng đồng bọn - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: các bị cáo Trần Dương C, Nguyễn Đức N và Huỳnh Hồng Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 45/2023/HS-ST Ngày: 19/9/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Tấn Đạt;
Bà Võ Thị Thơ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Qúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Khánh Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2023/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 9 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Trần Dƣơng C, sinh năm 1993 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: thiên chúa; nghề nghiệp: lái xe; Trình độ văn hóa: 4/12; con ông Trần Phúc T và bà Lê Thị X, chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt từ ngày 02/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).
2. Nguyễn Đức N, sinh năm 1994 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: thiên chúa; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Nguyễn Đức S và bà Nguyễn Thị Kim A; Vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt từ ngày 02/3/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).
3. Huỳnh Hồng Đ, sinh năm 1989 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: thiên chúa; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12. Con ông Huỳnh Quốc T1 và bà Lê Thị T2; có vợ Phan Lê Hồng P (đã ly hôn) và 03 người con; tiền án tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt từ ngày 25/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 30 ngày 02/3/2023, Trần Dương C điều khiển xe mô tô biển số 85B1-127.35 đến ngã 5 Phan Rang mua 01 tép ma túy của một người không rõ nhân thân với giá 300.000 đồng, giấu trong người rồi đi về nhà ở thôn H, xã H, huyện N với mục đích để sử dụng. Khi C đang ở nhà thì Nguyễn Đức N điều khiển xe mô tô biển số 85C1-065.06 mà trong cốp xe có sẵn 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 02 quẹt ga, 01 chai nhựa hiệu Numberone, 01 nỏ thủy tinh, 03 ống hút nhựa, 01 ống kim loại đến rủ đi uống cà phê, C đồng ý. Do có sẵn ma túy trong người nên C rủ N sử dụng ma túy, N đồng ý và điều khiển xe mô tô chở C đi tìm địa điểm để sử dụng ma túy. Khi đi qua quán cà phê ở C thuộc thôn H thì gặp Huỳnh Hồng Đ nên N dừng xe lại. Nhạc rủ Đ cùng sử dụng ma túy chung, Đ đồng ý. Do không biết địa điểm nào để sử dụng nên N và C hỏi Đ biết địa điểm nào không để cùng sử dụng ma túy thì Đ điều khiển xe mô tô 85V3-9380 dẫn N và C đến ngôi nhà hoang ở M thuộc thôn H, xã H. Cầm đưa tép ma túy cho N để N bỏ vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi Nhạc, C, Đ tự đốt lửa và thay phiên nhau hút. Khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày cả nhóm sử dụng xong, N bỏ chai nhựa hiệu Numberone lại và giữ lại một số dụng cụ còn nỏ thủy tinh có gắn ống nhựa thì đưa cho Đ giữ lần sau sử dụng. Khi cả ba vừa đi ra khỏi nhà hoang thì bị Cơ quan điều tra Công an huyện N phát hiện. Đ đưa lại nỏ thủy tinh cho C thì C ném xuống mương nước gần đó. Cơ quan điều tra đã thu giữ của Đ 01 ống hút nhựa bên trong có dính chất kết tinh màu trắng xám (ký hiệu M ); thu giữ của N 02 quẹt ga; 02 ống hút nhựa; 01 ống kim loại và tiến hành truy tìm dụng cụ, test nhanh ma túy đối với các đối tượng. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy chai nhựa hiệu Numberone và nỏ thủy tinh. Qua xét nghiệm, Trần Dương C, Nguyễn Đức N, Huỳnh Hồng Đ đều dương tính với ma túy loại Methamphetamine.
Tại bản kết luận giám định số 73/KLGĐ-PC09, ngày 05 tháng 3 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Chất kết tinh màu trắng xám ( ký hiệu M) là ma túy loại Methamphetamine. Khối lượng là: 0,0181 gam. Đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra, Trần Dương C, Nguyễn Đức N, Huỳnh Hồng Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Đối với xe mô tô hiệu Sirius biển số 85B1-127.35 mà Trần Dương C dùng để đi mua ma túy là của ông Trần Phúc T. Xe mô tô biển số 85C1-065.06 mà Nguyễn Đức N dùng để chở C đi sử dụng ma túy là của ông Nguyễn Đức S. Xe mô tô biển số 85V3-9380 mà Huỳnh Hồng Đ dùng để đến nhà hoang là của ông Lê Văn T3. Các ông T, S, T3 không biết các đối tượng dùng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra không thu giữ để xử lý là có căn cứ.
Đối với người bán ma tuý cho Trần Dương C, hiện nay chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Bản Cáo trạng số: 34/CT-VKSNH ngày 03/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận truy tố các bị cáo Trần Dương C, Nguyễn Đức N và Huỳnh Hồng Đ về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
- Tại phiên tòa sơ thẩm:
+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải giữ nguyên quyết định truy tố theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Trần Dương C, Nguyễn Đức N và Huỳnh Hồng Đ phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo C mức án từ 04 năm đến 05 năm tù và các bị cáo N, Đ mức án từ 03 đến 04 năm tù.
+ Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Lời nói sau cùng của các bị cáo:
Bị cáo C: Bị cáo biết hành vi của mình là sai, mong Tòa xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Bị cáo N: Hành vi của bị cáo là sai, bị cáo mong Tòa xem xét giảm nhẹ để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội
Bị cáo Đ: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của mình, mong Tòa xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Trần Dương C, Nguyễn Đức N và Huỳnh Hồng Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Sáng ngày 02/3/2023 tại ngôi nhà hoang ở M thuộc thôn H, xã H, huyện N, các bị cáo Trần Dương C, Nguyễn Đức N và Huỳnh Hồng Đ đã cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải truy tố: các bị cáo Trần Dương C, Nguyễn Đức N và Huỳnh Hồng Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” thuộc trường hợp “đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, tính chất, mức độ, vai trò hành vi phạm tội của các bị cáo được xác định như sau: Bị cáo C là người khởi xướng, cung cấp ma tuý và rủ rê N sử dụng ma túy; bị cáo N là người cung cấp dụng cụ sử dụng ma tuý và rủ rê Đ sử dụng ma túy; bị cáo Đ là người cung cấp địa điểm để cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước về quản lý mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết phải xử phạt các bị cáo mức án nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời có tác dụng phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo C, N, Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo C, N, Đ đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi bị bắt quả tang và trong quá trình giải quyết vụ án các bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều là người nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo.
Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, khối lượng ma túy để tổ chức sử dụng ma túy ít, các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo mức án dưới khung hình phạt bị truy tố.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo Trần Dương C, Nguyễn Đức N và Huỳnh Hồng Đ không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì đã được niêm phong (là mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 quẹt gas màu đỏ kích thước (7,5x2)cm; 01 quẹt gas màu trắng, bị mất phần đầu kích thước (6x2)cm; 01 ống nhựa màu trắng dài 27cm; 01 ống hút nhựa màu trắng bị cắt xén một đầu dài 7,5 cm; 01 ống kim loại (Inox) màu trắng dài 11cm. Đây là công cụ, phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu huỷ.
Về án phí: Các bị cáo Trần Dương C, Nguyễn Đức N và Huỳnh Hồng Đ là người bị kết án nên phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
UY T ĐỊNH
1. Căn cứ vào: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: các bị cáo Trần Dương C, Nguyễn Đức N và Huỳnh Hồng Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Trần Dƣơng C 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 02/3/2023.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức N 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 02/3/2023.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Hồng Đ 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 25/7/2023.
2. Về xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì đã được niêm phong (là mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 quẹt gas màu đỏ kích thước (7,5x2)cm; 01 quẹt gas màu trắng, bị mất phần đầu kích thước (6x2)cm; 01 ống nhựa màu trắng dài 27cm; 01 ống hút nhựa màu trắng bị cắt xén một đầu dài 7,5 cm; 01 ống kim loại (Inox) màu trắng dài 11cm.
Các vật chứng này đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/8/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Hải.
3. Về án ph : căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Các bị cáo Trần Dương C, Nguyễn Đức N và Huỳnh Hồng Đ, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/9/2023./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện Ninh Hải; - Công an huyện Ninh Hải; - Chi cục THADS huyện Ninh Hải; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - UBND xã nơi các bị cáo cư trú; - Các bị cáo; - Lưu: án văn, hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đinh Thị Thành |