vanban.org

Bản án 45/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau Tuyên án 15/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn C bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần cho bị hại Nguyễn Thảo M và tiền mất thu nhập và chi phí đi lại cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 19.900.000 đồng, được đối tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Chánh - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ gồm
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 45/2022/HS-ST
Ngày 21 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Thanh Bự

Ông Nguyễn Ngọc Trường

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Cẩm Tú là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Kim - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C , sinh năm 1960 tại tỉnh Cà Mau; nơi cư trú: Ấp Nhị Nguyệt, xã Trần Phán, huyện Đ , tỉnh C ; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con cụ Nguyễn Văn P và cụ Lê Thị T ; có vợ: Võ Thị M và 08 người con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Trẻ Nguyễn Thảo M , sinh ngày 27/7/2012; địa chỉ: Ấp Nhị Nguyệt, xã Trần Phán, huyện Đ , tỉnh C . (có mặt)

- Người đại diện hợp pháp của trẻ M : Ông Nguyễn Thị D , sinh năm1983; địa chỉ: Ấp Nhị Nguyệt, xã Trần Phán, huyện Đ , tỉnh C . (có mặt).

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Trần Như N - Là trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C (có mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

Bà Lê Thị L , sinh năm 1962; địa chỉ: Ấp Nhị Nguyệt, xã Trần Phán, huyện Đ , tỉnh C . Là người làm chứng (có mặt)

Trẻ Nguyễn Thúy Q , sinh năm 2007; địa chỉ: Ấp Nhị Nguyệt, xã Trần Phán, huyện Đ , tỉnh C . Là người làm chứng (có mặt).

- Người đại diện hợp pháp của trẻ Q : Bà Lê Thị L , sinh năm 1962; địa chỉ: Ấp Nhị Nguyệt, xã Trần Phán, huyện Đ , tỉnh C . (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 08/10/2022, Nguyễn Văn C đi bộ từ chòi vuông sang nhà của bà Ngô Thị L . Lúc này, trong nhà chỉ có Nguyễn Thảo M , C nảy sinh ý định quan hệ tình dục đối với trẻ M . C dùng tay phải bịt miệng và kéo trẻ M vào phòng ngủ của bà L , dùng hai tay cởi quần của trẻ M ra khỏi hai chân, C tự cởi quần ngắn của C ra khỏi hai chân. C dùng tay sờ, bóp âm đạo của trẻ M một cái rồi nằm ngửa xuống nền xi măng. C kéo trẻ M nằm úp trên người C rồi dùng hai tay ôm người và mông của trẻ M kéo ghì xuống áp sát vào người của C , dương vật của C cương lên chạm vào âm đạo của trẻ M , C tiếp tục hôn vào mặt trẻ M một cái. Khoảng 02 phút sau thì bà Lê Thị L đi vào phòng phát hiện cả hai không mặc quần nằm ôm nhau nên bà L truy hô và trình báo Công an xã Trần Phán. Sau đó, Công an xã Trần Phán đến lập biên bản sự việc.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 39/TD-22 ngày 11/10/2022 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Cà Mau đối với Nguyễn Thảo M , kết luận: Bộ phận sinh dục không tổn thương, không xếp tỷ lệ %; màng trinh dạng vòng, không vết rách cũ hay mới; cơ thể không dấu vết thương tích, không xếp tỷ lệ %.

Tại bản Cáo trạng số: 48/CT-VKS ngày 11/11/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát bảo vệ toàn bộ nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 142; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C mức án từ 05 năm đến 06 năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại 19.900.000 đồng. Trong đó tiền tổn thất tinh thần, danh dự, nhân phẩm do bị xâm hại số tiền 14.900.000 đồng; tiền mất thu nhập thực tế: 2.500.000 đồng và chi phí đi lại 2.500.000 đồng

- Về xử lý vật chứng: Bị cáo và bị hại không nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ gồm: 01 quần ngắn màu xanh, có hình trái cây và con vật, dài 31cm; 01 áo ngắn màu xanh, có hình trái cây và con vật, dài 42cm; 01 quần đùi ngắn màu kem, trên ống phải có dây kéo, trên ống trái có chữ Styte&co, dài 60cm; 01 áo thun màu xanh ngắn tay, phía sau có chữ tôm giống - thuốc, dài 68cm.

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thực hiện trợ giúp pháp lý cho bị hại thống nhất về tội danh mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Đối với việc bị cáo xâm phạm đến thân thể, danh dự, nhân phẩm của bị hại dẫn đến gây nên nỗi đau cho gia đình và bị hại. Tại phiên tòa bị cáo chưa tỏ ra thái độ ăn năn hối cải và Kiểm sát viên đề nghị mức án đối với bị cáo chưa đủ sức răn đe. Do đó, kiến nghị Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi và Công văn số 68/TANHTC-PC của Toà án nhân dân tối cao ngày 08/4/2019 về việc xét xử tội phạm xâm hại tình dục, bạo hành trẻ em. Đề nghị xử bị cáo mức hình phạt cao hơn theo đề nghị của Kiểm sát viên.

Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tại phiên bị cáo với đại diện bị hại đã thỏa thuận được nên đề nghị Hội đồng xét xử ghị nhận mức bồi thường theo yêu cầu của đại diện bị hại số tiền 19.900.000 đồng.

Bị cáo không tranh luận.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi hiếp dâm bị hại và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật và bồi thương thiệt hại tiền tổn thất tinh thần số tiền 14.900.000 đồng; tiền chi phí mất thu nhập 2.500.000 đồng và tiền chi phí đi lại số tiền 2.500.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đầm Dơi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn C thừa nhận. Vào khoảng 12 giờ 50 phút ngày 08/10/2022, tại nhà bà Ngô Thị L , Nguyễn Văn C thực hiện hành vi quan hệ tình dục với trẻ Nguyễn Thảo M khi trẻ My mới 10 tuổi 02 tháng 11 ngày. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự.

Theo điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

b, Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”.

Từ đó, Cáo trạng số 48/CT-VKS ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp rất nghiệm trọng. Vì hiện nay trẻ em nhất là trẻ em nữ, người cần được gia đình, xã hội quan tâm chăm sóc, bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền bất khả xâm phạm thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em và khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đối với trẻ M mới 10 tuổi 02 tháng 11 ngày, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến thuần phong mỹ tục, đồng thời gây ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về tâm, sinh lý của trẻ em, gây bức xúc trong dư luận, xã hội. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, khi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; động cơ và mục đích phạm tội của bị cáo nhằm quan hệ tình dục với bị hại để thỏa mãn nhu cầu sinh lý của bị cáo.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo lần đầu phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với đề nghị của đại điện Viện kiểm sát áp dụng mức hình phạt dưới khung đối với bị cáo là chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Bởi lẽ, tuy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng theo tinh thần tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi xâm phạm tình dục người dưới 13 tuổi.

Từ đó, Hội đồng xét xử có xem xét đầy đủ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Nên cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để bị cáo có điều kiện học tập, lao động trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại yêu cầu bị cáo bị cáo bồi thường cho bị hại tiền tổn thất tinh thần số tiền 14.900.000 đồng; tiền chi phí đi lại 2.500.000 đồng và tiền mất thu nhập 2.500.000 đồng.

[5.1.] Xét yêu cầu của đại diện bị hại đối với khoản tiền tổn thất tình thần, danh dự và nhân phẩm. Hội đồng xét xử thấy rằng, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường theo quy định pháp luật. Căn cứ Điều 592 Bộ luật dân sự quy định: “Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định…”. Viễn dẫn theo điều luật trên xét thấy, bị hại bị xâm phạm về danh dự, nhân phẩm và tổn hại về tinh thần không nhỏ nên cần buộc bị cáo C bồi thường cho bị hại 10 lần mức lương cơ sở theo yêu cầu của đại diện bị hại số tiền 14.900.000 đồng (mức lương cơ sở hiện tại 1.490.000 đồng x 10 tháng = 14.900.000 đồng).

[5.2.] Đối với yêu cầu bồi thường khoản tiền mất thu nhập và chi phí đi lại số tiền 5.000.000 đồng thấy rằng. Tuy đại diện bị hại không cung cấp được toa vé đi lại và hợp đồng lao động của đại diện bị hại nhưng thực tế trong thời gian chăm sóc bị hại để ổn định tinh thần, đại diện bị hại không thể đi làm được và theo mức lương lao động phổ thông tại địa phương mức thu nhập 250.000 đồng/ngày x 10 ngày = 2.500.000 đồng và tiền xe đi lại từ Đồng Nai về Cà Mau, cũng như quá trình đưa trẻ My đi lại 2.500.000 đồng là phù hợp. Từ đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của đại diện bị hại.

Từ các căn cứ trên buộc bị cáo bồi thường cho đại diện bị hại và bị hại số tiền 19.900.000 đồng. Bị cáo đã nộp khắc phục số tiền 10.000.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0002727 ngày 07/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi, số tiền còn phải tiếp tục nộp bồi thường là 9.900.000 đồng. Giao số tiền 10.000.000 đồng bị cáo đã nộp khắc phục lại cho bị hại Nguyễn Thảo M, do ông Nguyễn Thị D là người đại diện hợp pháp của bị hại M nhận.

Lời phát biểu luận tội của kiểm sát viên về tội danh đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Lời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng: Bị cáo và bị hại không nhận lại và không còn giá trị sử dụng. Do đó, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu huỷ gồm: 01 quần ngắn màu xanh, có hình trái cây và con vật, dài 31cm; 01 áo ngắn màu xanh, có hình trái cây và con vật, dài 42cm; 01 quần đùi ngắn màu kem, trên ống phải có dây kéo, trên ống trái có chữ Styte&co, dài 60cm; 01 áo thun màu xanh ngắn tay, phía sau có chữ tôm giống - thuốc, dài 68cm.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số tiền 695.000 đồng (trong đó án phí hình sự 200.000 đồng và án phí dân sự 495.000 đồng {9.900.000 đồng x 5%})

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 142; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C bồi thường thiệt hại về tổn thất tinh thần cho bị hại Nguyễn Thảo M và tiền mất thu nhập và chi phí đi lại cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 19.900.000 đồng, được đối trừ số tiền đã nộp xong 10.000.000 đồng, còn phải tiếp tục bồi thường 9.900.000 đồng (chín triệu chín trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Giao số tiền 10.000.000 đồng do gia đình bị cáo Nguyễn Văn C đã nộp bồi thường tại biên lai thu tiền số 0002727 ngày 07/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi cho bị hại Nguyễn Thảo M , do ông Nguyễn Thị D là người đại diện hợp pháp của bị hại M nhận.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ gồm: 01 quần ngắn màu xanh, có hình trái cây và con vật, dài 31cm; 01 áo ngắn màu xanh, có hình trái cây và con vật, dài 42cm; 01 quần đùi ngắn màu kem, trên ống phải có dây kéo, trên ống trái có chữ Styte&co, dài 60cm; 01 áo thun màu xanh ngắn tay, phía sau có chữ tôm giống - thuốc, dài 68cm.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2022 giữa Cơ quan điều tra với Chi cục thị hành án.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí sơ thẩm số tiền 695.000 đồng (sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng). Trong đó án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm 495.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại và những người liên quan có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ