vanban.org

Bản án 45/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 10/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Chu Lan P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, Xử phạt: Chu Lan P 12 (mƣời hai) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Chu Lan P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN ND QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------
Bản án số: 45/2018/HSST
Ngày: 10/4/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đồng Trƣng

Hội thẩm nhân dân: - Ông Thái Nguyên Bền

- Bà Nguyễn Diệu Thúy

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hiển Vinh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà:

Ông Vũ Văn Thế

- Kiểm sát viên

Trong ngày 10 tháng 04 năm 2018, tại Trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 41/2018/TL-HSST ngµy 07/03/2018,

đối với bị cáo:

Chu Lan P Giới tính: Nữ Sinh năm: 1985.

Nơi ĐKHKTT: thôn C, xã V, huyện P, Tp. Hà Nội.

Chỗ ở: số 3/56/64 Đ T tổ 14 phường V, quận HM, TP. Hà Nội

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 10/12; Họ tên cha: Chu Văn Đ - sinh năm: 1940 (đã chết); Họ tên mẹ: Trần Thị T - sinh năm: 1950 (đã chết); Gia đình có ba anh em, bị cáo là con thứ ba; Họ tên chồng: Nguyễn Văn H - Sinh năm: 1976 (đã ly hôn); Có hai con, con lớn sinh năm 2002; con nhỏ sinh năm 2005

TATS: 03 tiền sự, 01 tiền án

Tiền sự:

Từ năm 2000 đến 2003 Chu Lan P có 03 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản (ngoài thời hiệu)

Tiền án:

- Ngày 18/08/2016, Tòa án nhân dân quận T, Tp. Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (tài sản trị giá 124.150.000 đồng) bị cáo kháng cáo. Ngày 30/11/2016 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về hành vi trộm cắp tài sản , thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (Án số: 1158/2016/HSPT) đến nay Phương vẫn chưa thi hành bản án trên - Án tích chưa được xóa.

Tạm giữ: 21/12/2017 Tạm giam: 30/12/2017 Số giam: 1590 Q1

(Có mặt tại phiên toà).

* Ngƣời bị hại : Chị Phạm Thị Thùy L Sinh năm: 1990

HKTT: Số 199 tổ 16 phường T, quận Đ, TP. Hà Nội.

Chỗ ở: Số 54 phố T, phường T, quận Đ, TP Hà Nội.

(vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/11/2017, Chu Lan P điều khiển xe máy nhãn hiệu Zip Piaggio màu đỏ BKS: 29Y7 – 293xx chở cháu trai Bùi Minh C (Sinh năm: 2004; HKTT: Thôn C, xã V, huyện P, TP. Hà Nội) đến cửa hàng số 70 QS, phường T, quận H, TP. Hà Nội để mua bộ quần áo phật tử. Tại đây, P gặp chị Phạm Thị Thùy L (Sinh năm: 1990; HKTT: 199 tổ 16 phường T, quận Đ, TP. Hà Nội) đang chọn mua đồ. Sau đó P có nhờ chị L thử hộ chiếc áo phật tử. Chị L đồng ý và đưa túi xách cho P cầm hộ để thử áo. Lợi dụng chị L thay áo, P phát hiện thấy bên trong chiếc túi xách của chị L có một chiếc ví da màu hồng, P nảy sinh ý định trộm cắp chiếc ví nên dùng tay phải lấy trộm chiếc ví và cất giấu vào trong túi áo khoác bên phải của mình. Khi chị L thử đồ xong, P trả lại túi xách cho chị L và trả tiền mua chiếc áo phật tử rồi lên xe máy chở cháu C rời khỏi cửa hàng. Sau khi P bỏ đi, chị L mới phát hiện bị mất chiếc ví da màu hồng để bên trong chiếc túi xách. Sau đó chị L đến cơ quan Công an trình báo. Tài sản bị mất bao gồm: 01 chiếc ví da nhãn hiệu Louis Vuitton, màu hồng, kích thước 17x22 cm bên trong ví có 29.000.000 đồng (hai mươi chín triệu đồng); 200 USD (hai trăm đô la Mỹ) tổng trị giá tài sản khoảng 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng); 01 thẻ căn cước công dân; 01 thẻ ra vào Đài truyền hình Việt Nam; 03 thẻ Ngân hàng đều mang tên Phạm Thị Thùy L.

Ngày 20/12/2017, Chu Lan P đến Cơ quan CSĐT - Công an quận Hoàn Kiếm đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. P khai, sau khi trộm cắp, P đi đến khu vực trước cửa số nhà số 02 KT, quận Đ, TP. Hà Nội kiểm tra chiếc ví da nhãn hiệu Louis Vuitton màu hồng bên trong ví có 22.000.000 đồng, 01 thẻ căn cước, 01 thẻ ra vào Đài truyền hình Việt Nam và khoảng 03 thẻ ngân hàng. Toàn bộ số tiền trộm cắp được, P đã ăn tiêu hết, chiếc ví cùng số giấy tờ có trong ví P vứt vào thùng rác trước cửa số nhà 2D phố K T, quận Đ, Hà Nội. Tiến hành dẫn giải P đến địa chỉ trên tuy nhiên không thu hồi được chiếc ví. Thu giữ của P: 01 xe máy nhãn hiệu Zip Piaggio màu đỏ BKS: 29Y7 – 293xx; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đen.

Ngày 04/01/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Hoàn Kiếm đã tiến hành cho Chu Lan P và Phạm Thị Thùy L tham gia đối chất về tổng số tài sản có trong chiếc ví. Chu Lan P khai nhận đã lấy được trong ví một cọc tiền mệnh giá 500.000 đồng, tổng số tiền là 22.000.000 đồng. Ngoài ra, P không lấy thêm đồ vật tài sản gì khác trong ví. Chị L cung cấp số tiền có trong chiếc ví là 29.000.000 đồng được chia làm 02 cọc tiền trong đó một cọc tiền là 16.000.000 đồng là số tiền chi thu kinh doanh tại cửa hàng số 02 T N T, quận HB, Tp. Hà Nội vào hai ngày 21 và 22/11/2017 được chị Lê Thị N (sinh năm: 1982; HKTT: số nhà 22D5 khu dãn dân Y P, phường P, quận HĐ, TP. Hà Nôi) là nhân viên thu ngân đưa cho chị L vào tối ngày 22/11/2017. Còn cọc tiền 13.000.000 đồng và 200 USD là số tiền chị Phạm Thị Thùy L dùng để khuyên góp làm từ thiện, số tiền này có anh Tôn Hiếu A (SN: 1977; HKTT: số 9 L T T, phường P, quận H, TP. Hà Nội) là người chứng kiến chị L để trong ví vào tối ngày 22/11/2017.

Tiến hành lấy lời khai của chị N và anh Hiếu A đều thừa nhận có nhìn thấy chị L bỏ tiền vào trong ví vào tối ngày 22/11/2017 như lời khai của chị L.

Tại bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 06 ngày 21/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàn Kiếm kết luận: 01 ví da màu hồng, kích thước khoảng 20x10 cm, dạng ví kéo khóa có logo LV - tên nhãn hiệu Louis Vuitton đã qua sử dụng có trị giá 10.700.000 đồng. Theo Bảng tỉ giá ngoại tệ và lãi suất của ngân hàng VP bank ngày 23/11/2017 thì 200 USD trị giá 4.533.000 đồng.

Đối với Bùi Minh C quá trình điều tra xác định C không biết việc P trộm cắp tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận Hoàn Kiếm không xử lý.

Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy nhãn hiệu Zip Piaggio màu đỏ BKS: 29Y7 – 293xx là của chị Bùi Thị P1 (sinh năm: 1973; HKTT: xã PY, huyện P, TP. Hà Nội - Là chị chồng) cho P mượn. Chị P1 không biết việc P dùng xe máy đi trộm cắp tài sản nên ngày 02/2/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàn Kiếm ra quyết định xử lý vật chứng số 42 trao trả chị P1 chiếc xe máy nói trên. Sau khi nhận lại tài sản chị P1 không có ý kiến thắc mắc gì.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Masstel P tự nguyện giao nộp, qua điều tra xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của P nên ngày 02/2/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng số 42 trao trả cho đại diện gia đình P là chị Bùi Thị P1 đã nhận điện thoại và không có ý kiến gì.

Ngày 27/12/2017 gia đình P khắc phục hậu quả đã bồi thường cho chị Phạm Thị Thùy L 12.000.000 đồng.

Ngày 29/3/2018, gia đình bị cáo đã khắc phục hậu quả bồi thường cho chị L 17.000.000 đồng. Hiện chị L không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.

Tại bản cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 02/3/2018, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Chu Lan P về tội “Trộm cắp tài sản” - theo khoản 1 điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận như đã khai tại cơ quan điều tra và công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 BLHS là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị kết tội bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS 2015 xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án chưa thi hành buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt từ 36 tháng đến 39 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Chu Lan P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng những tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/11/2017, Chu Lan P đã có hành vi trộm cắp của chị Phạm Thị Thùy L 01 chiếc ví da nhãn hiệu Louis Vuitton, màu hồng, kích thước 17x22 cm trị giá 10.700.000 đồng bên trong ví có 29.000.000 đồng (hai mươi chín triệu đồng); 200 USD (hai trăm đô la Mỹ) tương đương với 4.533.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 44.233.000 đồng (bốn mươi bốn triệu hai trăm ba mươi ba nghìn đồng) cùng 01 thẻ căn cước công dân; 01 thẻ ra vào Đài truyền hình Việt Nam; 03 thẻ Ngân hàng đều mang tên Phạm Thị Thùy L tại 70 Q S, phường T, quận H, Tp. Hà Nội.

Hành vi của Chu Lan P đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, giá trị tài sản trộm cắp là 44.233.000 đồng, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự

Bị cáo đã có 01 tiền án năm 2016 về tội “Trộm cắp tài sản”, bị xử phạt 24 tháng tù, án chưa được xoá, lần phạm tội này xác định là tái phạm. Xét thấy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam cách ly bị cáo trong một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo cũng như phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên toà khai báo thành khẩn, bị cáo và gia đình đã khắc phục một phần hậu quả, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan công an tự thú nên cần áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Bị cáo chưa chấp hành hình phạt 24 tháng tù của bản án hình sự phúc thẩm số 1158/2016/HSPT ngày 30/11/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội nên áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 để tổng hợp hình phạt

Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hợp pháp

Về số tài sản P đã chiếm đoạt, bị cáo và gia đình đã khắc phục một phần. Người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì, do vậy không xem xét trách nhiệm dân sự đối với P.

Vật chứng: 01 đĩa CD được lưu kèm hồ sơ vụ án

Không áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 điều 138 đối với bị cáo

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

* Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Chu Lan P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng.

+ Khoản 1 điều 138 Bộ luật hình sự 1999, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, 56 Bộ luật hình sự 2015.

+ Điều 106, 135, 331, 333 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015

+ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

3. Xử phạt: Chu Lan P 12 (mƣời hai) tháng tù.

Tổng hợp hình phạt 24 tháng tù của bản án Hình sự phúc thẩm số 1158/2016/HSPT ngày 30/11/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đối với Chu Lan P. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 36 (ba mƣơi sáu) tháng tù

Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2017 được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2015 đến ngày 22/9/2015

Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 138 Bộ luật hình sự

4. Xử lý vật chứng, án phí quyền kháng cáo:

+ 01 đĩa CD được lưu kèm hồ sơ vụ án.

+ Bị cáo phải chịu 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ