vanban.org

Bản án 44A/2020/HSST — Hình sự

TAND Q. Ba Đình, TP. Hà Nội Tuyên án 07/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Nguyễn Thị H 9 (chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 chìa khóa bằng kim loại màu bạc dài 5,5 cm có chữ JIAWEI trên thân chìa khoá; Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình theo biên bản bàn giao vật chứng số 44 ngày 30/12/2019. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Hiền - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Nguyễn Thị H 9 (chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BA ĐÌNH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44A/2020/HSST
Ngày 07 tháng 5 năm 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Cẩm Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đỗ Thị Hằng Huệ

2. Bà Nguyễn Thị Thuỵ

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Bích Phương

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đưa ra xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 03/2020/TL - HSST ngày 03 tháng 01 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị H; sinh năm: 1978; ĐKNKTT: huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa 1/12; Con ông: Nguyễn Văn Vường; Con bà: Lê Thị Thon; Có chồng: Nguyễn Văn Đô; Tiền án, tiền sự: không: Bị bắt ngày 18 tháng 10 năm 2019; Hủy bỏ biện pháp tạm giam ngày 12 tháng 12 năm 2019; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 12/12//2019; Bị cáo tại ngoại; Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Chị Nguyễn Thị Bích L, sinh năm: 1980; Trú tại: Xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị H thuê trọ tại địa chỉ số 5 ngách 127/7 phố Phúc Xá, phường Phúc Xá, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, để làm thuê tự do tại chợ Long Biên. Tháng 9 năm 2019, Nguyễn Thị H nhặt được 01 chìa khoá ở trước cửa phòng chị Nguyễn Thị Bích L là hàng xóm cùng khu trọ. Hiền thử cắm chìa khoá và mở được phòng chị Long. Hiền liền nảy sinh ý định có cơ hội sẽ trộm cắp tài sản trong phòng chị Long. Do biết sinh hoạt của chị Long đi làm ban đêm, buổi sáng về phòng trọ và thường xuống tầng 1 để tắm, nên Hiền đã chờ lúc chị Long không có trong phòng, cầm chìa khoá nhặt được mở khoá phòng chị Long, tìm chỗ chị Long cất tiền rồi rút lõi của các tệp tiền. Sau đó, khoá cửa phòng chị Long lại. Với phương pháp như trên, Hiền đã 05 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như sau:

Lần 1: Ngày 13/10/2019, Hiền trộm của chị Long số tiền: 7.500.000 đồng;

Lần 2: Ngày 14/10/2019, Hiền trộm của chị Long số tiền: 8.200.000 đồng;

Lần 3: Ngày 15/10/2019, Hiền trộm của chị Long số tiền: 6.200.000 đồng;

Lần 4: Ngày 17/10/2019, Hiền trộm của chị Long số tiền: 7.500.000 đồng;

Lần 5: Ngày 18/10/2019, Hiền trộm của chị Long số tiền: 5.100.000 đồng;

Toàn bộ số tiền trên chị Long đều để ở trong túi nilon dưới đất, cạnh chiếc bàn bên phải cửa ra vào. Tổng cộng Hiền đã lấy trộm: 34.500.000 đồng.

Sau khi phát hiện bị mất tiền và xác định bị mất trong phòng trọ, chị Long đã để bật camera điện thoại chế độ ghi hình, đặt ở trên giường trong phòng, hướng ra cửa phòng trọ, do đó đã ghi rõ phương pháp, thủ đoạn hành vi trộm cắp của Hiền như nêu trên vào các ngày 17,18/10/2019, nên chị Long đã đến Công an phường Phúc Xá trình báo.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và tất cả số tiền Hiền trộm cắp của chị Long, Hiền đều cất vào trong phòng trọ của Hiền. Riêng số tiền 5.100.000 đồng trộm cắp của chị Long vào sáng ngày 18/10/2019, Hiền cất giấu dưới chăn trong phòng trọ của mình. Khoảng gần trưa ngày 18/10/2019 khi Công an phường Phúc Xá kiểm tra phòng, Hiền đã tự nguyện giao nộp số tiền 5.100.000 đồng trên.

Vật chứng thu giữ gồm:

- Nguyễn Thị H tự giao nộp số tiền: 5.100.000 đồng (năm triệu một trăm nghìn đồng);

- Nguyễn Văn Đô tự giao nộp số tiền: 5.000.000 đồng (năm triệu đồng);

- Thu giữ tại phòng trọ của Hiền số tiền: 32.500.000 đồng (ba mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng);

- 01 chìa khoá bằng kim loại màu bạc dài 5,5cm có chữ JIAWEI trên thân chìa khoá;

- 01 USB ghi lại hình ảnh Nguyễn Thị H thực hiện hành vi trộm cắp ngày 17/10/2019 và ngày 18/10/2019.

Lời khai của Nguyễn Thị H phù hợp với lời khai người bị hại Nguyễn Thị Bích L về tổng số tiền trộm cắp, phù hợp vật chứng thu giữ, sơ đồ hiện trường, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Quá trình điều tra, xác định Hiền đưa cho anh Nguyễn Văn Đô số tiền 5.000.000 đồng để chi tiêu cho sinh hoạt gia đình. Anh Đô không biết số tiền này do Hiền phạm tội mà có. Nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ba Đình không đề cập xử lý.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Ba Đình đã trao trả cho chị Nguyễn Thị Bích L số tiền 34.500.000 đồng. Chị Long đã nhận lại số tiền trên và không có yêu cầu gì khác về dân sự.

Đối với số tiền 8.100.000 đồng, quá trình điều tra xác định là số tiền của gia đình Nguyễn Thị H. Cơ quan điều tra đã trao trả cho Nguyễn Thị H.

Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 31 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, bản cáo trạng đã truy tố.

Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm vụ án và đưa ra những chứng cứ, lý lẽ kết luận, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 31 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt Nguyễn Thị H mức án 9 tháng đến 15 tháng tù

Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo

Về phần dân sự: Bị cáo đã tự nguyện trả lại số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Bích L, chị Long đã nhận lại toàn bộ số tiền bị cáo chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên không xét.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 chìa khoá bằng kim loại màu bạc dài 5,5 cm có chữ JIAWEI trên thân chìa khoá;

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội, bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, mong sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ diễn biến vụ án đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 13/10/2019 đến ngày 18/10/2019, Nguyễn Thị H đã thực hiện 05 lần hành vi trộm cắp với tổng số tiền là 34.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị Bích L thì bị bắt. Xét, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội trộm cắp tài sản, tội danh và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[3] Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ đúng theo quy định của pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Bích L, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tự nguyện trả lại đầy đủ số tiền chiếm đoạt cho người bị hạ, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s,i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án, từ ngày 13/10/2019 đến ngày 18/10/2019, bị cáo đã thực hiện 05 lần hành vi trộm cắp tài sản đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

[7] Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.

[8] Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về phần dân sự: Bị cáo đã tự nguyện trả lại số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Bích L, chị Long đã nhận lại toàn bộ số tiền bị cáo chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác nên Tòa không xét.

[10] Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 chìa khóa bằng kim loại màu bạc dài 5,5 cm có chữ JIAWEI trên thân chìa khoá.

[11] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Căn cứ Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Xử phạt: Nguyễn Thị H 9 (chín) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giam, tạm giữ từ ngày 18/10/2019 đến ngày 12/12/2019.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 chìa khóa bằng kim loại màu bạc dài 5,5 cm có chữ JIAWEI trên thân chìa khoá; Vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình theo biên bản bàn giao vật chứng số 44 ngày 30/12/2019.

Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại (Vắng mặt tại phiên tòa) có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.

Cỡ chữ