vanban.org

Bản án 442/2025/HSPT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/08/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

năm 2015; áp dụng khoản 1 Điều 311; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Tuyết Hạnh - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc (điều 311 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? năm 2015; áp dụng khoản 1 Điều 311; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 311 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 442/2025/HSPT
Ngày: 26-8-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Trực

Các Thẩm phán:

1. Ông Nguyễn Văn Hậu;

2. Ông Phạm Viết Hùng.

Thư ký tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Trang – Thư

ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên

tòa: Bà Đỗ Thị Thu Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí

Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số

275/2025/HSPT ngày 02/7/2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H do có

kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 70/2025/HS-ST ngày

22/5/2025 của Tòa án nhân dân Quận 5 (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 3),

Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị Tuyết H; giới tính: nữ; sinh ngày 25 tháng 11 năm 1981, tại

tỉnh Long An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: 3201 P, Phường A,

Quận B (Nay là phường B), Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân

tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Kế toán; con

ông: Nguyễn Văn H (sinh năm 1942) và bà: Nguyễn Thị T (chết); chồng: Phạm

Ngọc H1 (sinh năm: 1983) và có 02 người con (sinh năm 2011 và sinh năm

2018); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2024

đến ngày 24/01/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú

- có mặt.

Ngoài ra, vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Tấn Phước, Võ Văn Điệp và

Phạm Thanh Sơn không có kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Tuyết H làm kế toán cho Chi nhánh Công ty TNHH Thương

mại hóa chất Hải Hà, địa chỉ: 104D Ngô Nhân Tịnh, Phường 13, Quận 5, ngành nghề kinh doanh hóa chất công nghiệp các loại (không được kinh doanh chất độc) do ông Phạm Ngọc H là người đứng đầu Chi nhánh Công ty (ông Phạm Ngọc H là chồng của H) nhưng thực tế mọi hoạt động kinh doanh đều do H phụ trách như quản lý, nhập xuất hàng hóa, hạch toán và kê khai thuế cho Công ty theo phương pháp khấu trừ.

Vào khoảng tháng 6/2024, Nguyễn Thị Tuyết H có quen biết với Nguyễn

Tấn Phước. Sau đó, Phước đến trực tiếp hỏi mua chất độc Xyanua thì H đồng ý, mỗi lần Phước mua khoảng 02 kg Xyanua dạng rắn, màu trắng có hình dạng giống như bánh bò, với giá bán dao động khoảng 125.000 đồng – 200.000 đồng tùy nguồn gốc, chủng loại, thanh toán bằng tiền mặt, không có hóa đơn chứng từ. Số chất độc Xyanua bán cho Phước được H đặt mua từ Công ty TNHH hóa chất Việt Nhật (Công ty này đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Chánh điều tra về hành vi mua bán trái phép chất độc) thông qua hình thức gọi đến số điện thoại 6267249 của Công ty, sau đó có người giao tới (H không rõ lai lịch của người giao hàng), H trả tiền mặt cho người giao hàng. Việc mua bán chất độc Xyanua của H có sự giúp sức của Phạm Thanh Sơn (là người làm công tại Chi nhánh Công ty TNHH Thương mại hóa chất Hải Hà như sau: Khi có khách đặt mua thì H thỏa thuận, sau đó yêu cầu Sơn vào trong Cửa hàng lấy chất độc Xyanua giao cho khách rồi nhận tiền đưa lại cho H. H và Sơn ý thức được hóa chất Xyanua là chất độc, không được phép mua bán, tàng trữ, sử dụng khi không có giấy phép của cơ quan Nhà nước. H và Sơn đã bán cho Phước 02 lần vào các ngày 01/6/2024 và ngày 13/9/2024 khoảng 04 ký với giá 500.000 đồng (125.000 đồng/kg, H lời 100.000 đồng). Sau khi mua Xyanua của H, Phước mang về bán lại cho Võ Văn Điệp và các cửa hàng xi mạ với giá 250.000 đồng/kg, cụ thể: Phước đã bán cho Võ Văn Điệp 02 lần vào tháng 6/2024 và ngày 13/9/2024, với giá 440.000 đồng (220.000 đồng/kg). Võ Văn Điệp mua Xyanua của Phước và sử dụng vào việc xi mạ làm tăng độ bóng cho bạc, vàng tại Cửa hàng của Điệp số 85 Nghĩa Thục, Phường 5, Quận 5. Vào khoảng 16 giờ 00 ngày 25/9/2024, ông Nguyễn Tri Thái Vũ (con trai bà chủ nhà mà Điệp thuê) từ trên lầu 1 xuống đất để đi ăn uống thì thấy tại chân cầu thang có để 02 bịch nylon màu trắng, nghi ngờ là chất cấm nên ông Vũ mang đến trình báo Công an Phường 5, Quận 5 trình báo. Vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Quận 5 để thụ lý theo thẩm quyền.

Tại bản Kết luận số 6017 ngày 04/10/2024 của Phân viện Khoa học hình sự

của Bộ Công an tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

Chất rắn màu trắng đựng trong 02 bịch nylong gửi giám định đều có chứa

thành phần Sodium Cyanide (NaCN). Trọng lượng 1,25 kg.

Sodium Cyanide (NaCN) là chất độc thuộc nhóm 6.1, STT: 1035, Nghị định

số 34/2024/NĐ-CP ngày 31 tháng 3 năm 2024 của Chính phủ.

Sodium Cyanide (NaCN) là chất độc đối với người, có LD50 qua đường

miệng chuột: 6,4 mg/kg (BL: 80-83).

Kết quả điều tra và tại phiên toà sơ thẩm: Võ Văn Điệp, Nguyễn Tấn

Phước, Nguyễn Thị Tuyết H và Phạm Thanh Sơn khai nhận hành vi phạm tội

như trên và phù hợp với nhau cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 70/2025/HS-ST ngày 22/5/2025 của Tòa án

nhân dân Quận 5 (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 3), Thành phố Hồ Chí Minh

đã quyết định:

“…Căn cứ khoản 1 Điều 311; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51

và Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng

trữ, mua bán trái phép chất độc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ

ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được cấn trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm

giam từ ngày 17/10/2024 đến này 24/01/2025.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên xử đối với các bị cáo: Nguyễn Tấn

Phước 01 năm 04 tháng tù; Phạm Thanh Sơn 01 năm tù cùng về tội “Mua bán

trái phép chất độc”; Võ Văn Điệp 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ, sử dụng

trái phép chất độc”; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 27/5/2025, bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H có đơn kháng cáo xin xem

xét hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội

dung bản án sơ thẩm đã xét xử. Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và xác

định kháng cáo xin được hưởng án treo. Trong phần tranh luận bị cáo không có

ý kiến. Nói lời sau cùng bị cáo xin tòa xem xét chấp nhận kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu, kết

luận đối với vụ án: Với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như lời

khai của bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy Tòa án

cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H về tội “Tàng trữ, mua

bán trái phép chất độc” là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức

án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo là tương xứng với vai trò, tính chất mức độ phạm

tội của bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không bổ sung tình tiết giảm nhẹ

mới. Do vậy đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án

sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

Nguyễn Thị Tuyết H là kế toán cho Chi nhánh Công ty TNHH Thương

mại hóa chất Hải Hà, địa chỉ: 104D Ngô Nhân Tịnh, Phường 13, Quận 5, Thành

phố Hồ Chí Minh đồng thời là người quản lý điều hành mọi hoạt động của Chi

nhánh Công ty. Vào khoảng tháng 6/2024, Nguyễn Thị Tuyết H đã mua số chất

độc loại Xyanua từ Công ty TNHH hóa chất Việt Nhật và bán lại Nguyễn Tấn

Phước 02 lần vào các ngày 01/6/2024 và ngày 13/9/2024 khoảng 04 ký với giá

500.000 đồng (H thu lợi 100.000 đồng). Việc mua bán chất độc Xyanua của H

có sự giúp sức của Phạm Thanh Sơn (là người làm công tại Chi nhánh Công ty

Hải Hà). Nguyễn Tấn Phước mua Xyanua của H về bán lại cho Võ Văn Điệp và

các cửa hàng xi mạ với giá 250.000 đồng/kg. Võ Văn Điệp đã 02 lần mua Xyanua

của Phước vào tháng 6/2024 và ngày 13/9/2024, với giá 440.000 đồng (220.000 đồng/kg) và sử dụng vào việc xi mạ làm tăng độ bóng cho bạc, vàng tại Cửa hàng của Điệp. Vào khoảng 16 giờ 00 ngày 25/9/2024, ông Nguyễn Tri Thái Vũ (con trai chủ nhà nơi Điệp thuê làm cửa hàng) nhìn thấy tại 02 bịch nylon màu trắng (là Xyanua) do Điệp để ở chân cầu thang, nghi ngờ là chất cấm nên trình báo Công an Phường 5, Quận 5 xử lý.

Với hành vi vi phạm nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H và đồng

phạm, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H phạm tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất độc”, các bị cáo Nguyễn Tấn Phước và Phạm Thanh Sơn phạm tội “Mua bán trái phép chất độc”; Võ Văn Điệp phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép chất độc” theo khoản 1 Điều 311 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H có đơn kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H xin được hưởng

án treo. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo H các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu có nhân thân tốt theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ và xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là phù hợp tương xứng với vai trò, mức độ phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không bổ sung tình tiết giảm nhẹ mới. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo qui định tại Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực ngày 01/01/2017.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự

năm 2015; áp dụng khoản 1 Điều 311; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 70/2025/HS-ST ngày 22/5/2025 của Tòa án nhân dân Quận 5 (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 3), Thành phố Hồ Chí Minh; Xử phạt Nguyễn Thị Tuyết H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất độc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, được cấn trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/10/2024 đến ngày 24/01/2025.

Bị cáo Nguyễn Thị Tuyết H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000

(hai trăm ngàn) đồng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị

đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ