vanban.org

Bản án 05/2020/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Quảng Nam Tuyên án 20/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm các tội “Vận chuy n trái phép chất độc” và tội “Đ a hối lộ”; bị cáo Ngô Đức M phạm tội “Vận chuy n trái phép chất độc”. Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn T 08 (Tám) năm tù về tội “ Vận chuy n trái phép chất độc”; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Ngô Văn T cùng đồng phạm phạm tội "Vận chuyển trái phép chất độc" và tội "Đưa hối lộ" - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử d…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2020/HS-ST
Ngày: 20/02/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Th m hán - h t a hiên t a: Ông Nguyễn Quốc Thiện

Th m hán:

Ông Võ Minh Diệp

á

i th m nh n d n:

Ông Trần Công Nho

Ông Nguyễn Đình Cảnh

Ông Trịnh Ngọc Bằng

- Thư ký phiên t a: Ông Huỳnh Minh Ngôn – Th ký Tòa án nhân dân t nh Quảng Nam

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh u ng am tham gia phiên t a: Ông Nguyễn Hữu Quân - i m sát viên

Hôm nay, ngày 20 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2019/TLST-HS ngày 24 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số 54/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Ngô Văn T, sinh năm 1974 tại huyện T, t nh Quảng Nam; nơi đăng ký hộ khẩu th ờng trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 1, thôn K, xã B, huyện T, t nh Quảng Nam; nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: inh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn C (Đã chết) và bà Lâm Thị L; có vợ là Nguyễn Thị im O, sinh năm 1977; có 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: hông;

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm gi t ngày 01 02 2018, chuy n tạm giam ngày 10/02/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Quảng Nam, có mặt tại phiên tòa

2. Ngô Đức M, sinh năm 1974 tại huyện T, t nh Quảng Nam; nơi đăng ký hộ khẩu th ờng trú và chỗ ở hiện nay: Tổ 3, thôn T, xã B, huyện T, t nh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lái xe lôi; trình độ học vấn: Lớp 4/12; dân tộc: inh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Văn M, sinh năm 1942 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1948; có vợ là Huỳnh Thị P, sinh năm 1977; có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: hông;

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm gi t ngày 01 02 2018, chuy n tạm giam ngày 10/02/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an t nh Quảng Nam, có mặt tại phiên tòa

- Ng ời bào ch a của bị cáo Ngô Văn T: Ông Ngô Thanh T, luật s Văn phòng luật s Thanh Thiên thuộc Đoàn luật s t nh Quảng Nam và ông Vũ Minh T, luật s Văn phòng luật s Vũ Minh Th ơng thuộc Đoàn luật s t nh Quảng Nam Đều có mặt

- Ng ời bào ch a của bị cáo Ngô Đức Mẫn: Ông Nguyễn Xuân B, luật s Văn phòng luật s Đào Duy hánh thuộc Đoàn luật s t nh Quảng Nam Có mặt

- Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1980; trú tại: Tổ 16, thôn T, xã B, huyện T, t nh Quảng Nam Có mặt

2. Ông Trần Huy P, sinh năm 1987; công tác tại Công an huyện T, t nh Quảng Nam; địa ch : Tổ 9, thị trấn H, huyện T, t nh Quảng Nam Có mặt

3. Ông Nguyễn Phú C, sinh năm 1993; công tác tại Công an huyện T, t nh Quảng Nam; địa ch : Tổ 9, thị trấn H, huyện T, t nh Quảng Nam Có mặt

4. Ông Ngô Trung T, sinh năm 1997; trú tại: Tổ 1, thôn , xã B, huyện T, t nh Quảng Nam Vắng mặt

5. Ông Lê Phi T, sinh năm 1964; trú tại: 21 Bà Huyện Thanh Q, ph ờng M, quận N, thành phố Đ. Có mặt

6. Ông Nguyễn L, sinh năm 1990; trú tại: Thôn 5, xã T, huyện T, t nh Quảng Nam Vắng mặt

7. Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1978; trú tại: Tổ 1, thôn , xã B, huyện T, t nh Quảng Nam Có mặt

- Ng ời làm chứng:

1. Ông Trần Huy P, sinh năm 1987; công tác tại Công an huyện T, t nh Quảng Nam; địa ch : Tổ 9, thị trấn H, huyện T, t nh Quảng Nam Có mặt

2. Ông Nguyễn Phú C, sinh năm 1993; công tác tại Công an huyện T, t nh Quảng Nam; địa ch : Tổ 9, thị trấn H, huyện T, t nh Quảng Nam Có mặt

3. Ông Hoàng N, sinh năm 1968; trú tại: Tổ 3, thôn P, xã B, huyện T, t nh Quảng Nam (Tr ởng Công an xã B, huyện T, t nh Quảng Nam) Có mặt

4. Bà Huỳnh Thị P, sinh năm 1977; trú tại: Tổ 3, thôn T, xã B, huyện T, t nh Quảng Nam Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Trên ơ sở kết quả điều tra, đã xá định đượ như sau:

Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 01 02 2018, Ngô Văn T đang ở nhà của mình thì có một ng ời đàn ông (không rõ lai lịch) chạy xe máy đến hỏi T: “Có biết ở gần đây có ai chạy xe ba gác máy (xe lôi) không?”, T hỏi lại ng ời đàn ông đó: “Chở cái chi, t đâu về?”, ng ời đàn ông đó nói: “Chở mấy bao bột nhựa t Ngã ba sát hạch (thuộc địa phận xã B, huyện T) về xã B”, T hỏi lại: “Giá cả sao thì tôi thuê cho”, ng ời đàn ông đó nói: “Giá 600 000 (sáu trăm ngàn) đồng” Sau đó, T điều khi n xe máy nhãn hiệu Nouvo của mình chạy đi tìm ng ời chở hàng thì thấy Ngô Đức M nên gọi và hỏi: “M có rãnh không, chở cho tao chuyến hàng t Ngã ba sát hạch về xã B, tao trả 400 000 (bốn trăm ngàn) đồng”, M đồng ý Sau đó, T yêu cầu M chạy xe ba gác máy (xe lôi) đi tr ớc theo h ớng Quốc lộ 1A - Ngã ba sát hạch, còn T quay về gặp lại ng ời đàn ông đó và nói có ng ời chạy xe ra tr ớc rồi Ng ời đàn ông đó đ a tiền cho T và bảo T đ a số điện thoại của T cho ng ời đàn ông đó, lát n a sẽ có ng ời gọi giao hàng Sau khi đ a số điện thoại, T và ng ời đàn ông đó mỗi ng ời đi trên một chiếc xe máy cùng đi theo h ớng Quốc lộ 1A - Ngã ba sát hạch

Trên đ ờng đi, T hỏi ng ời đàn ông: “Chở hàng chi rứa ông?”, ng ời đàn ông nói: “Mấy cái đồ làm vàng ấy mà” (tức là Xyanua) V a đi, T v a suy nghĩ lại thấy ng ời đàn ông nói cũng đúng, vì chở có chuyến hàng và với đoạn đ ờng không xa lắm mà ông ta trả 600 000 (sáu trăm ngàn) đồng; T nghĩ đã nhận tiền rồi nên phải chở nên không nói gì và tiếp tục đi cùng ng ời đàn ông đó Đi đ ợc một đoạn thì T thấy M đang chạy xe phía tr ớc, T nói với ng ời đàn ông: “Xe đang ở phía tr ớc kìa”, ng ời đàn ông đó nói lại với T: “Thôi, hai anh em chạy ra Ngã ba sát hạch đợi xíu có xe vào giao hàng, khi nào chất hàng xong thì chạy thẳng theo đ ờng bi n (ĐT129) về B”, sau đó ng ời đàn ông đó chạy tr ớc

T và M chạy xe đến Ngã ba sát hạch ngồi đợi tại một quán n ớc; một lúc sau có một số điện thoại (giọng một ng ời đàn ông) gọi đến cho T nói: “Xe chở hàng chuẩn bị đến”, T nói: “Đang ngồi đợi ngay Ngã ba sát hạch”, ng ời gọi điện đến cho T nói tiếp: “Đợi một lúc sẽ đến ngay” T và M đang ngồi đợi tại quán n ớc thì có một xe tải hiệu Hino B S 43C-051.81 do tài xế Nguyễn Ngọc B (sinh ngày 05 10 1980; trú tại: Tổ 16, thôn T, xã B, huyện T, t nh Quảng Nam; là lái xe cho Công ty TNHH TM&DV vận tải N, địa ch Lô 14 đ ờng Bà Huyện Thanh Q, ph ờng M, quận N, thành phố Đ) điều khi n chạy vào Ngã ba sát hạch, lúc đó số điện thoại đã gọi cho T tr ớc đó gọi lại và nói: “Vào nhận hàng”, sau đó T nói M cùng đi bốc hàng T và M bốc hàng t xe tải sang xe lôi của M, trong lúc bốc hàng thì M hỏi T: “Hàng chi rứa vậy ông”, T nói: “Im, im, im, chất làm vàng đó”, M nghe vậy biết là Xyanua và tiếp tục bốc tổng cộng 24 bao tải hàng, trọng l ợng loại 20 (hai m ơi) đến 25 (hai lăm) ki lô gam chất lên xe lôi hi bốc hàng xong, T nói với M là: “Đi thẳng theo đ ờng bi n (ĐT129) về xã B, huyện T”, sau đó T điều khi n xe máy Nouvo chạy tr ớc, còn M điều khi n xe lôi chở hàng chạy theo sau Đi đ ợc một đoạn thì T gặp ng ời đàn ông đã thuê T chở hàng đứng đợi phía tr ớc, sau đó T và ng ời đàn ông đó cùng đi

Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01/02/2018, khi M đang điều khi n xe lôi chở 24 bao hàng l u thông trên tuyến đ ờng ĐT129 đến địa phận thôn P, xã B, huyện T, t nh Quảng Nam thì gặp Tổ Công tác Công an huyện T gồm hai đồng chí Trần Huy P (sinh ngày 22 8 1987; cán bộ công tác tại Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện T) và đồng chí Nguyễn Phú C (sinh ngày 28/11/1993; cán bộ công tác tại Đội An ninh Công an huyện T) làm nhiệm vụ tuần tra, ki m soát giao thông trên tuyến đ ờng ven bi n (ĐT129) Tổ Công tác phát hiện M đang điều khi n xe lôi 3 bánh, không có bi n ki m soát, trên thùng xe có chở 24 (hai m ơi bốn) bao tải nên yêu cầu d ng lại đ ki m tra, Tổ Công tác yêu cầu M xuất trình hóa đơn, chứng t của hàng hóa đang vận chuy n nh ng M không xuất trình đ ợc Cùng lúc đó, Ngô Văn T và ng ời đàn ông đã thuê T chở hàng đã đi đến địa phận xã B, huyện T thì T nhận đ ợc điện thoại của M, M nói: “Xe bị Cảnh sát giao thông bắt rồi”, T nói lại với ng ời đàn ông đó thì ng ời đàn ông đó nói: “Nói với nó (nói lại với M) có bao nhiêu tiền đ a hết cho họ đ nộp phạt họ cho đi”, T nói lại với M nội dung mà ng ời đàn ông đó đã nói với T, M lấy ra số tiền 1 500 000 (một triệu năm trăm ngàn) đồng và hối lộ cho Tổ Công tác xin bỏ qua đ cho xe đi nh ng Tổ Công tác không đồng ý và yêu cầu ki m tra hàng hóa. M tiếp tục gọi cho T nói đã đ a tiền rồi nh ng các anh không chịu, M yêu cầu T đến giải quyết T cũng nói nội dung mà M đã nói với T cho ng ời đàn ông đó nghe, sau đó ng ời đàn ông đó lấy ra một cọc tiền và đ a cho T và nói: “10 000 000 (m ời triệu) đồng đó, ông tới đ a cho họ năn n sao đ họ cho đi, tôi đứng ở đây đợi, xíu n a về tôi bồi d ỡng thêm cho”

T cầm tiền và điều khi n xe máy Nouvo đến chỗ M bị Cảnh sát giao thông bắt Trong lúc chờ Ngô Văn T đến, Tổ công tác yêu cầu M mang xuống một bao hàng đ ki m tra thì M nói: “ hông nên đụng vào, Xyanua đó” hi T đến nơi gặp Tổ Công tác và lấy trong ví ra số tiền 9 500 000 (chín triệu năm trăm ngàn) đồng đ hối lộ xin Tổ Công tác bỏ qua cho M, lấy xe đ chở hàng đi nh ng Tổ Công tác kiên quyết không đồng ý Tổ Công tác báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đến lập biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang về hành vi vận chuy n trái phép chất và đ a hối lộ

* Việc thu gi , tạm gi tài liệu, đồ vật gồm:

- 24 (hai m ơi bốn) bao tải bên ngoài in các dòng ch “AGC, bột nhựa PVC RESIN, ASNYL”, bên trong có chứa chất màu trắng hình trụ tròn, mỗi bao có cân nặng 25 (hai m ơi lăm) ki lô gam;

- 01 (một) xe lôi ba bánh không có bi n ki m soát;

- 01 (một) xe moto nhãn hiệu Yamaha Nouvo B S 92L1-061.39;

- 01 (một) cọc tiền mệnh giá 500 000 (năm trăm ngàn) đồng tiền Việt Nam gồm 19 (m ời chín) tờ, tổng cộng số tiền là 9 500 000 (chín triệu năm trăm ngàn) đồng;

- 01 (một) cọc tiền có tổng số tiền là 114 000 (một trăm m ời bốn ngàn) đồng tiền Việt Nam của Ngô Văn T;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, bên ngoài có ốp cao su màu đen, bên trong có gắn hai sim, 01 (một) sim Vinaphone không có số seri; 01 (một) sim Vinaphone có số seri: 89840 20001 06321 89254 của Ngô Văn T;

- 01 (một) giấy đăng ký xe số 020871 mang tên Ngô Văn T;

- 01 (một) thẻ ATM số 9704 0507 9273 2526 mang tên Ngô Văn T;

- 01 (một) thẻ khách hàng của Ngân hàng Agribank mang tên Ngô Văn T;

- 01 (một) giấy phép lái xe số 490038002488 hạng A1, mang tên Ngô Văn T;

- 01 (một) giấy phép lái xe số 790169079082 hạng B2 mang tên Ngô Trung Ti;

- 01 (một) ví màu đen cũ, 01 chứng minh nhân dân mang tên Ngô Văn T;

- 01 (một) cọc tiền 2 000 000 (hai trăm ngàn) đồng gồm: 02 (hai) tờ mệnh giá 500.000 (năm trăm ngàn) đồng, 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200 000 (hai trăm ngàn) đồng; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 100 000 (một trăm ngàn) đồng; 02 tờ tiền mệnh giá 50 000 (năm m ơi ngàn) đồng; 01 (một) ví màu đen đã cũ của Ngô Đức M;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell màu đen đỏ, bên trong có gắn hai sim gồm: 01 (một) sim Viettel có số seri 8984 04800 88128 11596; 01 (một) sim Vinaphone có số seri 89840 20001 05388 48748 của Ngô Đức M;

- 01 (một) điện thoại di động màu vàng nhạt, hiệu Mobell, số IMEI: 510111601071796, bên trong có gắn sim Mobifone số thuê bao 01202330791, mặt sau có in dãy số 8401150450078245 của Nguyễn Ngọc B.

* Ngày 05 02 2018, Cơ quan CSĐT Công an t nh Quảng Nam ra Quyết định tr ng cầu giám định số 10 PC45 tr ng cầu giám định tại Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng đối với 48 (bốn m ơi tám) viên nén màu trắng hình trụ tròn, đựng trong 24 (hai m ơi bốn) túi ni lông có trọng l ợng 600 (sáu trăm) ki lô gam.

* Tại ết luận giám định số 109 C54C(Đ4) ngày 07 02 2018 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đ kết luận: 48 viên nén màu trắng hình trụ tròn, đựng trong 24 (hai m ơi bốn) túi ni long đều là Natri Xyanua (NaCN) là chất độc mạnh với ng ời và gia súc.

Tại bản cáo trạng số 70/CT-VKS-P2 ngày 23/9/2019 của Viện ki m sát nhân dân t nh Quảng Nam đã truy tố: Bị cáo Ngô Văn T bị Viện ki m sát nhân dân t nh Quảng Nam truy tố về tội “Vận chuy n trái phép chất độc” theo quy định tại đi m a khoản 4 Điều 311 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Đ a hối lộ” theo quy định tại đi m a khoản 1 Điều 364 của Bộ luật Hình sự năm 2015; bị cáo Ngô Đức M bị Viện ki m sát nhân dân t nh Quảng Nam truy tố về tội “Vận chuy n trái phép chất độc” theo quy định tại đi m a khoản 4 Điều 311 của Bộ luật Hình sự năm 2015

Tại phiên tòa, đại diện Viện ki m sát nhân dân t nh Quảng Nam luận tội, gi nguyên bản Cáo trạng đã truy tố về tội danh, khoản, điều luật và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm các tội “Vận chuy n trái phép chất độc” và tội “Đ a hối lộ”; bị cáo Ngô Đức M phạm tội “Vận chuy n trái phép chất độc”

Căn cứ đi m a khoản 4 Điều 311; đi m s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Ngô Văn T 16 năm đến 17 năm tù về tội “ Vận chuy n trái phép chất độc”;

Áp dụng đi m a khoản 1 Điều 364; đi m s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Ngô Văn T 01 năm đến 02 năm tù về tội “Đ a hối lộ”

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Ngô Văn T phải chấp hành cho cả hai tội là 17 năm đến 19 năm tù

Căn cứ đi m a khoản 4 Điều 311; đi m s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Ngô Đức M 15 năm đến 16 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật nh cáo trạng đã đề cập

Các bị cáo nhận tội, không tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt

Ng ời bào ch a của bị cáo Ngô Văn T với luận cứ bào ch a:

Thống nhất với Cáo trạng truy tố và luận tội của đại diện Viện ki m sát nhân dân t nh Quảng Nam tại phiên tòa về tội danh, đi m khoản Điều luật áp dụng Tuy nhiên cần xem xét bị cáo Ngô Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là ng ời lao động nghèo ch vì món lợi 200 000 đồng mà phạm tội Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có mẹ ruột là ng ời có công cách mạng. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo d ới mức thấp nhất của khung hình phạt truy tố Đối với tội “Đ a hối lộ” thì hành vi của bị cáo đã cấu thành nh ng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội ch a đạt”. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bà Nguyễn Thị im O là vợ bị cáo T chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo B S 92L1-061.39 vì đây là ph ơng tiện duy nhất của gia đình bị cáo, hơn n a chiếc xe này là ph ơng tiện liên quan gián tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo

Ng ời bào ch a của bị cáo Ngô Đức M với luận cứ bào ch a:

Thống nhất với Cáo trạng truy tố và luận tội của đại diện Viện ki m sát nhân dân t nh Quảng Nam tại phiên tòa về tội danh, đi m khoản Điều luật áp dụng Bị cáo Ngô Đức M đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là ng ời lao động chính, hoàn cảnh gia đình khó khăn Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo d ới mức thấp nhất của khung hình phạt truy tố

Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị im O có ý kiến: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo B S 92L1-061.39 là ph ơng tiện di chuy n duy nhất của gia đình bà và là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của bà và bị cáo Ngô Văn T nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe này cho bà

Nh ng ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không tranh luận

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đ ợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nh sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an t nh Quảng Nam, Điều tra viên, Viện ki m sát nhân dân t nh Quảng Nam, i m sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự Bị cáo và nh ng ng ời tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp

Tại phiên tòa, bị cáo Ngô Văn T khai nhận:

hoảng 12 giờ 00 phút ngày 01 02 2018, bị cáo Ngô Văn T đang ở nhà của mình tại tổ 1, thôn , xã B, huyện T, t nh Quảng Nam thì có ng ời đàn ông (không rõ lai lịch) hỏi bị cáo T về việc cần chở mấy bao bột nhựa t ngã ba Sát hạch thuộc địa phận xã B, huyện T về xã B, huyện T Sau khi nghe ng ời đàn ông (không rõ lai lịch) nói giá vận chuy n là 600 000 đồng thì bị cáo đồng ý và đi tìm ng ời vận chuy n số hàng trên Bị cáo T thấy bị cáo Ngô Đức M thì thuê bị cáo M chở hàng cho ng ời đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 400 000 đồng thì đ ợc bị cáo M đồng ý Sau đó, bị cáo T nói bị cáo M chạy xe ba gác máy tới ngã ba Sát hạch tr ớc còn bị cáo T quay về gặp ng ời đàn ông (không rõ lai lịch) và nói có ng ời chạy xe ra tr ớc rồi Bị cáo T nhận của ng ời đàn ông (không rõ lai lịch) 600 000 đồng và ng ời đàn ông (không rõ lai lịch) bảo bị cáo T lát n a sẽ có ng ời giao hàng Bị cáo T và ng ời đàn ông (không rõ lai lịch), mỗi ng ời điều khi n trên một chiếc xe mô tô tới ngã ba Sát hạch Trên đ ờng đi, khi bị cáo T hỏi “Chở hàng chi rứa ông” thì ng ời đàn ông không rõ lai lịch nói “Mấy cái đồ làm vàng ấy mà” Lúc này bị cáo T biết đ ợc hàng ng ời đàn ông (không rõ lai lịch) nhờ vận chuy n là chất độc Xyanua nh ng nghĩ đã nhận tiền rồi và đ ợc h ởng lợi 200 000 đồng nên không nói gì mà vẫn tiếp tục đi tới ngã ba sát hạch Sau khi tới ngã ba Sát hạch thì có một xe tải chở hàng tới, bị cáo T và bị cáo M cùng chất hàng lên xe ba gác máy (xe lôi) của bị cáo M và vận chuy n về xã B theo h ớng đ ờng ĐT129. hi bị cáo T và ng ời đàn ông (không rõ lai lịch) đi tới địa phận xã B, huyện T thì bị cáo nhận đ ợc điện thoại của bị cáo M nói bị “Xe bị Cảnh sát giao thông bắt rồi” Theo sự h ớng dẫn của bị cáo T thì bị cáo M đã đ a số tiền 1.500.000 đồng hối lộ xin tổ công tác xin cho xe đi nh ng không đ ợc nên bị cáo M tiếp tục gọi cho bị cáo T đến Bị cáo T đến đ a số tiền 9.500.000 đồng đ hối lộ xin tổ công tác cho bị cáo M lấy xe chở hàng đi nh ng tổ công tác không đồng ý Cơ quan điều tra Công an huyện T đã lập biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang về hành vi vận chuy n trái phép chất độc và đ a hối lộ

Tại phiên tòa, bị cáo M khai nhận:

hoảng 12 giờ 00 phút ngày 01 02 2018, bị cáo Ngô Đức M đ ợc bị cáo Ngô Văn T thuê chở hàng t ngã ba Sát hạch thuộc địa phận xã B, huyện T về xã B, huyện T với giá 400.000 đồng thì bị cáo M đồng ý Bị cáo M điều khi n xe ba gác máy (xe lôi) của mình tới ngã ba Sát hạch Tại ngã ba Sát hạch, bị cáo T và bị cáo M bốc hàng t xe tải sang xe ba gác máy (xe lôi) của bị cáo M. Trong lúc bốc hàng thì bị cáo M hỏi bị cáo T: “Hàng chi rứa vậy ông”, bị cáo T nói: “Im, im, im, chất làm vàng đó” Bị cáo M nghe vậy biết là chất độc Xyanua nh ng nghĩ hàng đã chất lên xe và đã đ ợc trả 400 000 đồng nên vẫn tiếp tục chất hàng hi bốc hàng xong, bị cáo T nói với bị cáo M là: “Đi thẳng theo đ ờng bi n (ĐT129) về xã B, huyện T” Sau đó, bị cáo T điều khi n xe máy Nouvo chạy tr ớc, còn bị cáo M điều khi n xe lôi chở hàng chạy theo sau. Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01 02 2018, trên tuyến đ ờng ĐT129 thuộc địa phận thôn P, xã B, huyện T, t nh Quảng Nam, bị cáo Ngô Đức M đã có hành vi điều khi n xe lôi ba bánh, không có bi n ki m soát, chở 24 (hai m ơi bốn) bao tải đựng 600 (sáu trăm) ki lô gam chất độc NaCN (Natri Xyanua) không có hóa đơn, chứng t cho bị cáo Ngô Văn T. Bị cáo Ngô Văn T nhận vận chuy n cho ng ời không rõ lai lịch Cùng lúc đó, hai đồng chí Trần Huy P, Nguyễn Phú C là cán bộ thuộc Tổ Công tác Công an huyện T đang làm nhiệm vụ tuần tra, ki m soát giao thông trên tuyến đ ờng ĐT129 yêu cầu d ng xe, ki m tra Bị cáo M đã điện thoại cho bị cáo T, theo sự h ớng dẫn của bị cáo T thì bị cáo M đã đ a số tiền 1.500.000 đồng hối lộ xin tổ công tác xin cho xe đi nh ng không đ ợc nên bị cáo M tiếp tục gọi cho bị cáo T đến Bị cáo T đến đ a số tiền 9.500.000 đồng đ hối lộ xin tổ công tác cho bị cáo M lấy xe chở hàng đi nh ng tổ công tác không đồng ý Cơ quan điều tra Công an huyện T đã lập biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang về hành vi vận chuy n trái phép chất độc và đ a hối lộ

Qua tranh tụng tại phiên tòa, xét lời khai của các bị cáo, kết luận giám định chất độc; lời khai của ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ng ời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã đ ợc Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở đ kết luận:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01 02 2018, trên tuyến đ ờng ĐT129 thuộc địa phận thôn P, xã B, huyện T, t nh Quảng Nam, bị cáo Ngô Đức M đã có hành vi vận chuy n 24 (hai m ơi bốn) bao tải đựng 600 (sáu trăm) ki lô gam chất độc NaCN (Natri Xyanua) không có hóa đơn, chứng t cho bị cáo Ngô Văn T. Bị cáo Ngô Văn T nhận vận chuy n cho ng ời không rõ lai lịch Sau khi bị lực l ợng chức năng ki m tra thì bị cáo Ngô Văn T đã có hành vi đ a hối lộ với số tiền 9 500 000 đồng

Hành vi của bị cáo Ngô Văn T đã đủ các yếu tố cấu thành các tội “Vận chuy n trái phép chất độc” theo quy định tại đi m a khoản 4 Điều 311 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và tội “Đ a hối lộ” theo quy định tại đi m a khoản 1 Điều 364 của Bộ luật Hình sự năm 2015 Hành vi của bị cáo Ngô Đức M đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Vận chuy n trái phép chất độc” theo quy định tại đi m a khoản 4 Điều 311 của Bộ luật Hình sự năm 2015 Do vậy, Cáo trạng số 70/CT-VKS-P2 ngày 23/9/2019 của Viện ki m sát nhân dân t nh Quảng Nam và luận tội của i m sát viên tại phiên tòa đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng ng ời, đúng tội, đúng pháp luật

Xét tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì thấy: Chất độc NaCN (Natri Xyanua) là loại vật t kỹ thuật đặc biệt do Nhà n ớc độc quyền quản lý, phục vụ cho kế hoạch sản xuất và chiến đấu; ch các tổ chức, cơ quan, đơn vị đ ợc cơ quan Nhà n ớc có thẩm quyền cấp phép mới đ ợc sản xuất, tàng tr , vận chuy n, mua bán, sử dụng Các bị cáo nhận thức và hi u đ ợc nh ng quy định của pháp luật nh ng vì động cơ vụ lợi nên đã có hành vi vận chuy n chất độc và bất chấp nh ng quy định nghiêm cấm của pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hi m cho xã hội, không nh ng trực tiếp xâm phạm hoạt động quản lý của nhà n ớc về các loại vật t kỹ thuật độc quyền mà còn ph ơng hại nền an ninh Quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nh ng hậu quả xấu có th xảy ra Đ a hối lộ là hành vi cản trở hoạt động bình th ờng của cơ quan nhà n ớc, ng ời thực hiện công vụ và bị pháp luật nghiêm cấm nh ng bị cáo Ngô Văn T bất chấp quy định của pháp luật đ thực hiện hành vi đ a hối lộ Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc tr ờng hợp đặc biệt nghiêm trọng đối với tội “Vận chuy n trái phép chất độc” và ít nghiêm trọng đối với tội “Đ a hối lộ” Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, t ơng xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra mới có tác dụng răn đe, phòng ng a đối với các loại tội phạm này trong đời sống xã hội

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” , “ăn năn hối cải” đ ợc quy định tại đi m s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đ ợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Bị cáo Ngô Đức M có mẹ ruột là bà Hoàng Thị T đã có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến, có công cách mạng; bị cáo Ngô Văn T có hoàn cảnh khó khăn, có mẹ ruột là bà Lâm Thị L có công cách mạng và đ ợc tặng Huân ch ơng kháng chiến hạng 3, các bị cáo xuất thân t nhân dân lao động có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đ ợc quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đ ợc sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo.

Xét các bị cáo Ngô Văn T và Ngô Đức M có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại đi m s khoản 1 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và phạm tội lần đầu nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự, quyết định hình phạt d ới mức khởi đi m của khung hình phạt truy tố đối với các bị cáo về tội “Vận chuy n trái phép chất độc”

Đối với tội “Đ a hối lộ”, Hội đồng xét xử không áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Ngô Văn T khi quyết định hình phạt đ đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trong tình hình hiện nay

Xét tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo mới đủ sức răn đe và phòng ng a chung cho xã hội Trong vụ án này, bị cáo Ngô Văn T có vai trò chính, là ng ời khởi x ớng; bị cáo Ngô Đức M giúp sức tích cực cho bị cáo T, trực tiếp thực hành tội phạm nên Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo T cao hơn bị cáo M.

Bị cáo Ngô Văn T phạm 02 tội nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) đ tổng hợp hình phạt đối với bị cáo T.

Nh ng vấn đề khác cần giải quyết trong vụ án:

Đối với hành vi của ông Nguyễn Ngọc B: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an t nh Quảng Nam đã xác định vào ngày 01/02/2019, Nguyễn Ngọc B là ng ời nhận chở 24 bao hàng t thành phố H về Ngã ba sát hạch, khi nhận hàng tại thành phố H, B có hỏi ng ời giao hàng đó là loại hàng gì, họ trả lời là hạt nhựa, B nhìn thấy trên bao bì có chi dòng ch “Hạt nhựa”, hóa đơn, chứng t sẽ gửi về sau, họ trả tiền nên B đồng ý vận chuy n với giá 800 000 (tám trăm ngàn) đồng Căn cứ kết quả trích xuất d liệu t hệ thống giám sát hành trình của xe tải nói trên cho thấy xe 43C-051.81 do tài xế Nguyễn Ngọc B điều khi n t thành phố H về thành phố Đ đến xã B, huyện T, t nh Quảng Nam, tr a ngày 01 02 2018 có d ng đỗ tại Ngã ba sát hạch thuộc xã B, huyện T, t nh Quảng Nam đ giao hàng cho Ngô Văn T, Ngô Đức M. Tuy nhiên, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ đ xác định B có hành vi vận chuy n thuê chất độc (Xyanua) nên ch a đủ cơ sở đ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Ngọc B về hành vi “Vận chuy n trái phép chất độc” là đúng quy định của pháp luật

- Đối với ng ời đàn ông thuê bị cáo Ngô Văn T vận chuy n Xyanua: Căn cứ vào lời khai của bị can Ngô Văn T và trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra không xác định đ ợc nhân thân lai lịch nên không có cơ sở đ xử lý

- Đối với hành vi đ a hối lộ của bị cáo Ngô Đức M: Do số tiền không đủ định l ợng (1 500 000 đồng) về tội “Đ a hối lộ” nên Cơ quan điều tra đã đề nghị chuy n xử lý hành chính đối với hành vi đ a hối lộ là đúng quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

- Ngày 07 3 2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an t nh Quảng Nam ra Quyết định xử lý vật chứng số 52 PC45 về việc trả lại 01 (một) giấy phép lái xe số 790169079082 hạng B2 mang tên Ngô Trung Ti (sinh ngày 21/10/1997; trú tại Tổ 1, thôn K, xã Bình T, huyện T, t nh Quảng Nam; là phù hợp, đúng pháp luật

- Xét 24 (hai m ơi bốn) bao tải bên ngoài in các dòng ch “AGC, bột nhựa PVC RESIN, ASNYL”, bên trong có chứa chất màu trắng hình trụ tròn, mỗi bao có cân nặng 25 (hai m ơi lăm) ki lô gam là tang vật phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy (Vật chứng hiện đang đ ợc l u gi tại ho vật chứng Công an t nh Quảng Nam);

- Xét 01 (một) cọc tiền mệnh giá 500 000 (năm trăm ngàn) đồng tiền Việt Nam gồm 19 (m ời chín) tờ, tổng cộng số tiền là 9 500 000 (chín triệu năm trăm ngàn) đồng là tiền đ a hối lộ nên tịch thu sung công quỹ Nhà n ớc;

- Xét 01 (một) cọc tiền 2 000 000 (hai triệu) đồng gồm 02 (hai) tờ mệnh giá 500.000 (năm trăm ngàn) đồng, 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200 000 (hai trăm ngàn) đồng, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 100 000 (một trăm ngàn) đồng, 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 50 000 (năm m ơi ngàn) đồng Trong đó: 1 500 000 đồng là tiền đ a hối lộ và 400 000 đồng là tiền thu lợi bất chính của bị cáo Ngô Đức M nên tịch thu sung công quỹ Nhà n ớc; 100 000 đồng là của bị cáo Ngô Đức M không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Ngô Đức M nh ng tiếp tục tạm gi đ đảm bảo thi hành án;

- Xét 01 (một) cọc tiền có tổng số tiền là 114 000 (một trăm m ời bốn ngàn) đồng tiền Việt Nam của Ngô Văn T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo T nh ng tiếp tục tạm gi đ đảm bảo việc thi hành án

(Các khoản tiền đang đ ợc quản lý tại Cục thi hành án dân sự t nh Quảng Nam theo các biên lai thu tiền số 0000208 ngày 30 9 2019 và 0000247 ngày 18/02/2020).

- Xét 01 xe lôi ba bánh không có bi n ki m soát; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell màu đen đỏ, bên trong có gắn hai sim gồm: 01 (một) sim Viettel có số seri 8984 04800 88128 11596; 01 (một) sim Vinaphone có số seri 89840.20001.05388.48748 của Ngô Đức M; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, bên ngoài có ốp cao su màu đen, bên trong có gắn hai sim, 01 (một) sim Vinaphone không có số seri; 01 (một) sim Vinaphone có số seri: 89840.20001.06321.89254 của Ngô Văn T; là công cụ, ph ơng tiện thực hiện hành vi phạm tội, còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung công quỹ Nhà n ớc

- Xét 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo B S 92L1-061.39 (Kèm theo 01 (một) giấy đăng ký xe số 020871 mang tên Ngô Văn T): Đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo Ngô Văn T, bà Nguyễn Thị im O và là ph ơng tiện duy nhất của gia đình bị cáo Hơn n a, đây là ph ơng tiện không liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của bị cáo T Do đó, Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo Ngô Văn T và bà Nguyễn Thị im O (Bà O nhận thay chiếc xe này).

- Xét 01 (một) thẻ ATM số 9704 0507 9273 2526 mang tên Ngô Văn T; 01 (một) thẻ khách hàng của Ngân hàng Agribank mang tên Ngô Văn T; 01 (một) giấy phép lái xe số 490038002488 hạng A1, mang tên Ngô Văn T; 01 (một) ví màu đen cũ, 01 chứng minh nhân dân mang tên Ngô Văn T; 01 (một) ví màu đen đã cũ của Ngô Đức M; 01 (một) điện thoại di động màu vàng nhạt, hiệu Mobell, số IMEI: 510111601071796, bên trong có gắn sim Mobifone số thuê bao 01202330791, mặt sau có in dãy số 8401150450078245 của Nguyễn Ngọc B; là tài sản của bị cáo T, M và ông B, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo T, M và ông B.

(Các vật chứng đang đ ợc quản lý tại Cục thi hành án dân sự t nh Quảng Nam theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 9 2019)

- Đối với số tiền 600 000 đồng bị cáo T nhận của ng ời đàn ông không rõ lai lịch đ vận chuy n trái phép chất độc: Bị cáo T giao cho bị cáo M 400.000 đồng còn lại 200 000 đồng là tiền bị cáo T h ởng lợi t việc vận chuy n trái phép chất độc nên cần truy thu sung công quỹ Nhà n ớc số tiền 200 000 đồng này.

Về án phí: Các bị cáo Ngô Văn T và Ngô Đức M, mỗi bị cáo phải chịu 200 000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Ngô Văn T phạm các tội “Vận chuy n trái phép chất độc” và tội “Đ a hối lộ”; bị cáo Ngô Đức M phạm tội “Vận chuy n trái phép chất độc”.

Căn cứ đi m a khoản 4 Điều 311; đi m s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn T 08 (Tám) năm tù về tội “ Vận chuy n trái phép chất độc”;

Áp dụng đi m a khoản 1 Điều 364; đi m s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn T 01 (Một) năm tù về tội “Đ a hối lộ”

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Ngô Văn T phải chấp hành cho cả hai tội là 09 (Chín) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bị tạm gi , ngày 01/02/2018.

Căn cứ đi m a khoản 4 Điều 311; đi m s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Xử phạt bị cáo Ngô Đức M 07 (Bảy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày bị tạm gi , ngày 01 02 2018

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ: Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy: 24 (hai m ơi bốn) bao tải bên ngoài in các dòng ch “AGC, bột nhựa PVC RESIN, ASNYL”, bên trong có chứa chất màu trắng hình trụ tròn, mỗi bao có cân nặng 25 (hai m ơi lăm) ki lô gam (Vật chứng hiện đang đ ợc l u gi tại ho vật chứng Công an t nh Quảng Nam);

Tịch thu sung công quỹ nhà n ớc:

- 01 (một) cọc tiền mệnh giá 500 000 (năm trăm ngàn) đồng tiền Việt Nam gồm: 19 (m ời chín) tờ, tổng cộng số tiền là 9 500 000 (chín triệu năm trăm ngàn) đồng và 01 (một) cọc tiền 1.900.000 (Một triệu chín trăm ngàn) đồng gồm: 02 (hai) tờ mệnh giá 500 000 (năm trăm ngàn) đồng, 04 (bốn) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200 000 (hai trăm ngàn) đồng, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 100 000 (một trăm ngàn) đồng;

- 01 xe lôi ba bánh không có bi n ki m soát; 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobell màu đen đỏ, bên trong có gắn hai sim gồm: 01 (một) sim Viettel có số seri 8984.04800.88128.11596; 01 (một) sim Vinaphone có số seri 89840.20001.05388.48748 của Ngô Đức M; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, bên ngoài có ốp cao su màu đen, bên trong có gắn hai sim, 01 (một) sim Vinaphone không có số seri; 01 (một) sim Vinaphone có số seri: 89840.20001.06321.89254 của Ngô Văn T;

Trả lại cho bị cáo Ngô Văn T:

- 01 (một) thẻ ATM số 9704 0507 9273 2526 mang tên Ngô Văn T; 01 (một) thẻ khách hàng của Ngân hàng Agribank mang tên Ngô Văn T; 01 (một) giấy phép lái xe số 490038002488 hạng A1, mang tên Ngô Văn T; 01 (một) ví màu đen cũ, 01 chứng minh nhân dân mang tên Ngô Văn T;

- 01 (một) cọc tiền có tổng số tiền là 114 000 (một trăm m ời bốn ngàn) đồng tiền Việt Nam của Ngô Văn T nh ng tiếp tục tạm gi đ đảm bảo việc thi hành án.

Trả lại cho bị cáo Ngô Đức M: 01 (một) ví màu đen đã cũ của Ngô Đức M; số tiền 100 000 đồng là của bị cáo Ngô Đức M nh ng tiếp tục tạm gi số tiền này đ đảm bảo thi hành án;

Trả lại cho ông Nguyễn Ngọc B:

01 (một) điện thoại di động màu vàng nhạt, hiệu Mobell, số IMEI: 510111601071796, bên trong có gắn sim Mobifone số thuê bao 01202330791, mặt sau có in dãy số 8401150450078245 của Nguyễn Ngọc B.

- Trả lại cho bị cáo Ngô Văn T và bà Nguyễn Thị im O 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo B S 92L1-061.39 (Kèm theo 01 (một) giấy đăng ký xe số 020871 mang tên Ngô Văn T) Bà Nguyễn Thị im O nhận thay chiếc xe này.

(Các khoản tiền đang đ ợc quản lý tại Cục thi hành án dân sự t nh Quảng Nam theo các biên lai thu tiền số 0000208 ngày 30 9 2019 và 0000247 ngày 18 02 2020; các vật chứng còn lại đang đ ợc quản lý tại Cục thi hành án dân sự t nh Quảng Nam theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30 9 2019)

- Truy thu sung công quỹ Nhà n ớc số tiền 200 000 đồng của bị cáo Ngô Văn T là tiền bị cáo T h ởng lợi t việc vận chuy n trái phép chất độc

3. Về án phí: Các bị cáo Ngô Văn T và Ngô Đức M, mỗi bị cáo phải chịu 200 000 đồng án phí hình sự sơ thẩm

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày k t ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 20/02/2020), bị cáo, ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đ Tòa án nhân dân Cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm Nh ng ng ời có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày k t ngày bản án đ ợc tống đạt hợp lệ

Cỡ chữ