vanban.org

Bản án 44

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Phước H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Phước H mức án 10 tháng tù (Mười tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết và xử lý xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Trần Phước H trộm cắp tài sản - Bị truy tố tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Phước H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SA ĐÉC
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án s : 44/2017/HSST
Ngày: 29-9-2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC-TỈNH ĐỒNG THÁP

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bé Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Thanh Tuấn

Bà Ngô Thúy Hiền

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tân - Cán bộ Tòa án nhân dân thành ph a Đéc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Sa Đ c tha gia phiên tòa:

Ông Biện Công Năm - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2017 tại khu vực nhà chờ thuộc khóm N, phường Q, thành ph S Tòa n nhân dân thành ph a Đéc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý s 43/2017/HSST ngày 19 tháng 9 năm 2017 đ i với bị cáo:

Họ và tên: TRẦN PHƯỚC H - sinh năm 1974 (có mặt)

- Nơi sinh: Thành ph S, tỉnh Đ ng Th p

- ĐKTT: Khóm P, phường Q, thành ph S, tỉnh Đ ng Th p

- Dân tộc: Kinh

- Qu c tịch: Việt Nam

- Nghề nghiệp: Không

- Trình độ văn hóa: 6/12

- Con ông: Trần Hiệp H1, sinh 1930 (chết) và bà Trần Thị D, sinh 1931

- Vợ: Đoàn Thị P1, sinh năm 1975

- Con: có 02 người, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1997

- Anh, chị, em: có 11 người, lớn nhất sinh năm 1955, nhỏ nhất sinh 1977

- Tiền sự: Không

- Tiền án: Ngày 05/02/2016 bị Tòa án nhân dân thành ph a Đéc xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02/7/2016.

- Tạm giữ, tạm giam: Không

- Hiện ị c o đang tại ngoại tại địa chỉ s 139B, khóm P, phường Q, thành ph S; áp dụng biện ph p ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

* Ngư i bào chữa cho bị cáo H:

Trợ giúp viên: Ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1985(có mặt)

Địa chỉ: Trung tâm trợ giúp ph p lý Nhà nước tỉnh Đ ng Tháp - Chi nhánh s 01.

* Ngư i đại diện hợp pháp của bị cáo H:

Chị Đoàn Thị P1, sinh năm 1974 (có mặt)

ĐKTT: Khóm P, phường Q, thành ph S, tỉnh Đ ng Tháp

* Ngư i bị hại:

1. Chị Nguyễn Thị P2, sinh năm 1987 (có mặt)

ĐKTT: Khóm P, phường Q, thành ph S, tỉnh Đ ng Tháp

2. Anh Nguyễn Văn B1, sinh năm 1964 (vắng mặt)

ĐKTT: Khóm P, phường Q, thành ph S, tỉnh Đ ng Tháp

3. Chị Lê Thị Minh T2, sinh năm 1984 (có mặt)

ĐKTT: Ấp K, xã D1, thành ph S, tỉnh Đ ng Tháp

Chỗ ở: Khóm P, phường Q, thành ph S, tỉnh Đ ng Tháp.

NHẬN THẤY

Bị cáo Trần Phước H bị Viện kiểm sát nhân dân thành ph Sa Đéc truy t về hành vi phạm tội như sau:

Trần Phước H có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, khoảng 10 giờ ngày 12/5/2017 sau khi u ng rượu xong, H đi ngang nhà của chị Nguyễn Thị P2 s 90A, khóm P, phường Q, thành ph S, H nhìn thấy cửa nhà đã khóa nhưng không ai trông giữ nên H đi đến vách trái nhà (vách nhà bằng tôn) và dùng tay xé vách tôn tạo thành một khoảng tr ng r i đột nhập vào nhà. Khi vào nhà H phát hiện 01 điện thoại di động hiệu amsung Galaxy J2 Prime đang sạc pin để trên đầu tủ cạnh cửa bu ng nên H lấy điện thoại cất giấu vào túi quần bên trái, r i theo đường cũ ra ngoài đem điện thoại về nhà cất giấu.

Sau khi H lấy tài sản từ nhà chị P2 đi ra thì à Trần Kim H3 cạnh nhà chị P2 nhìn thấy nên điện thoại báo cho chị P2 biết về nhà kiểm tra tài sản thì phát hiện mất điện thoại di động có đặc điểm như trên nên trình báo sự việc đến Công an phường Q, thành ph S. Qua điều tra xác minh, H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và giao nộp lại điện thoại di động mà H đã lấy của chị P2.

Tại biên bản và kết luận định giá tài sản s 16/HĐ.ĐGT ngày 16/5/2017 của Hội đ ng định giá tài sản thành ph a Đéc kết luận:

- 01 điện thoại di động hiệu amsung Galaxy J2 Prime đã qua sử dụng có giá trị là 1.867.500 đồng.

Ngoài ra H còn khai nhận trước đó còn nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người kh c như sau:

- Lần thứ nhất: Vào khoảng 22 giờ 40 phút ngày 08/4/2017, sau khi u ng rượu say, H đi vào nhà ông Nguyễn Văn B1 khóm P, phường Q, thành ph S lấy trộm 02 tay lưới, loại lưới a màng 6,5 phân dùng để giăng ắt cá, mỗi tay lưới dài 40 mét, rộng 0,45 mét, đang treo trên cây sào bên hông nhà thì bị anh Nguyễn Qu c K1 (con ông B1) phát hiện bắt quả tang và trình báo với Công an phường Q, thành ph S.

- Lần thứ hai: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 23/4/2017, H đi ngang nhà chị Lê Thị Minh T2 thuộc khóm P, phường Q, thành ph S. H thấy nhà chị T2 không người trông giữ nên H đi đến bên hông nhà chị T2 lấy một mắt kính hiệu Loreal 10106A-135 để trên bàn r i mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày chị T2 về đến nhà phát hiện mất mắt kính nên trình báo sự việc cho Công an phường Q, thành ph S.

Tại biên bản và kết luận định giá tài sản s 22/KL-ĐGT ngày 03/6/2017 và s 21/HĐ.ĐGT ngày 05/6/2017 của Hội đ ng định giá tài sản thành ph Sa Đéc kết luận:

- 02 tay lưới, mỗi tay lưới dài 40 mét, rộng 0,45 mét, loại lưới ba màng 6,5 phân (tổng cộng 02 tay lưới dài 80 mét) đã qua sử dụng có giá trị định giá là 48.000 đồng;

- 01 mắt kính hiệu Loreal 10106A-135 đã qua sử dụng có giá trị định giá là 250.000 đồng.

Tại kết luận gi m định pháp y tâm thần s 72/2017/KLGĐTC ngày 11/7/2017 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ kết luận:

- Về y học: Trước, trong, sau khi phạm tội và hiện tại: Trần Phước H có bệnh lý tâm thần: R i loạn nhân cách và hành vi do sử dụng rượu.

- Về năng lực: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại: Trần Phước H hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi do bệnh lý tâm thần.

Tại Công văn s 72.0/PYTT ngày 11/7/2017 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ ban hành kèm theo kết luận gi m định pháp y tâm thần có nội dung: “Về trách nhiệm hình sự: Tại thời điểm phạm tội và hiện tại Trần Phước H có năng lực chịu trách nhiệm hình sự”.

Trong qu trình điều tra cơ quan Cảnh s t điều tra Công an thành ph Sa Đéc đã thu h i các tài sản mà H đã chiếm đoạt và hoàn trả:

- 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galãxy J2 Prime cho chị P2

- 01 mắt kính hiệu Loreal 10106A-135 cho chị T2.

- 02 tay lưới (mỗi tay dài 40 mét, rộng 0,45 mét, loại lưới ba màng 6,5 phân) cho ông B1 nhận lại xong.

Chị P2, chị T2 và ông B1 không yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng s 45/CT-VKS ngày 18/9/2017, Viện kiểm s t nhân dân thành ph a Đéc đã truy t bị cáo Trần Phước H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph Sa Đéc trong phần tranh luận đã giữ nguyên cáo trạng truy t và đề nghị:

Áp dụng Khoản 1 Điều 138, Điểm n, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Phước H về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 09 tháng t đến 12 tháng t .

Trợ giúp viên ông Nguyễn Qu c T1 bào chữa cho bị cáo Trần Phước H trình bày: Tại phiên tòa, ị c o khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội nên Viện kiểm s t truy t ị c o H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định. Tuy nhiên, nguyên nhân phạm tội do là bị cáo hạn chế nhận thức và điều khiển hành vi do sử dụng rượu, tại phiên tòa ị c o thành thật khai o, ăn năn h i cải, tài sản hoàn trả cho các bị hại xong, người bị hại có đơn ãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị c o có người thân tham gia cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kh ng chiến hạng Nhì, tại thời điểm phạm tội bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên sự nhận thức ph p luật có phần hạn chế. Do đó đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét p dụng c c tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm n, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo và xử phạt bị cáo 09 tháng tù.

Bị c o Trần Phước H nhận tội, không có ý kiến ào chữa, tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.

Người đại diện hợp pháp của bị c o không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt cho ị c o.

Người ị hại, không có ý kiến tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt cho ị c o.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia t tụng khác.

XÉT THẤY

Tại phiên tòa, ị c o khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người ị hại, người làm chứng, biên bản và kết luận định giá tài sản các s 16/HĐ.ĐGT ngày 16/5/2017, s 22/KL-ĐGT ngày 03/6/2017, 21/HĐ.ĐGT ngày 05/6/2017 của Hội đ ng định giá tài sản thành ph a Đéc, kết luận gi m định pháp y tâm thần s 72/2017/KLGĐTC ngày 11/7/2017 và Công văn s 72.0/PYTT ngày 11/7/2017 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ và c c chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong h sơ vụ n.

Qua đó đủ cơ sở x c định: Trần Phước H có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng trong khoảng thời gian từ ngày 08/4/2017 đến ngày 12/5/2017 tại khóm P, phường Q, thành ph S, H tiếp tục thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản g m: 02 tay lưới bắt cá (mỗi tay lưới dài 40 mét, rộng 0,45 mét, loại lưới ba màng 6,5 phân) trị gi 48.000 đ ng của ông Nguyễn Văn B1; một mắt kính hiệu Loreal 10106A-135 trị gi 250.000 đ ng của chị Lê Thị Minh T2; một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime trị gi 1.867.500 đ ng của chị Nguyễn Thị P2. Tổng giá trị tài sản là 2.165.500 đồng nhằm mục đích tư lợi cá nhân.

Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị c o là người đã thành niên, theo kết luận gi m định pháp y tâm thần s 72/2017/KLGĐTC ngày 11/7/2017 và Công văn s 72.0/PYTT ngày 11/7/2017 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ kết luận tại thời điểm phạm tội và hiện tại Trần Phước H có năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo có đủ năng lực tr ch nhiệm hình sự và nhận thức được quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi xâm phạm trái pháp luật tài sản của người khác, dù bằng hình thức nào, đều vi phạm pháp luật và sẽ bị xử lý. Thế nhưng, do ản tính tham lam, mu n có tài sản mà không cần ỏ ra nhiều công sức lao động, ị c o lợi dụng sự sơ hở của các bị hại trong việc quản lý tài sản, ị c o đã lén lút chiếm đoạt 02 tay lưới bắt cá, một mắt kính hiệu Loreal, một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime của ông Nguyễn Văn B1, chị Lê Thị Minh T2, chị Nguyễn Thị P2 nhằm mục đích vụ lợi cá nhân.

Bị cáo phạm tội với lỗi c ý, động cơ mục đích tư lợi c nhân. Thủ đoạn thực hiện tội phạm của bị cáo táo bạo, liều lĩnh: thời điểm phạm tội vào cả an ngày và an đêm, địa điểm phạm tội là tại các hộ thuộc khóm P, phường Q, thành ph S, thuộc khu vực nội ô thành ph S và cũng gấn khu vực bị c o đang sinh s ng, có đông dân cư, nhà được khóa lại cẩn thận, có bị hại đang ngủ trong nhà, nếu chiếm đoạt tài sản thì sẽ dễ ị ph t hiện và ị ắt, nhưng ị c o không sợ sệt, không sợ ị ph t hiện, với ản tính tham lam, ý thức xem thường ph p luật, ị c o lợi dụng các bị hại để tài sản sơ hở không người trông giữ và nhà cửa không được che chắn cẩn thận, ị c o đã lén lút chiếm đoạt các tài sản g m: 02 tay lưới bắt cá, một mắt kính hiệu Loreal, một điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime, tổng trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt là 2.165.500 đồng của các bị hại nhằm mục đích tư lợi cá nhân.

Bị c o là người đã thành niên, đã có vợ, con, ản thân ị cáo có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, trong thời gian chấp hành hình phạt, bị c o đã được giáo dục, học tập, giúp cho bị cáo hiểu biết được pháp luật, lẽ ra sau khi chấp hành hình phạt xong, bị cáo phải biết sửa đổi, c gắng lao động, làm ăn chân chính để tạo ra của cải vật chất nuôi s ng bản thân và chăm lo cho gia đình, làm tấm gương t t để con cái noi theo. Thế nhưng do ản tính tham lam, lười lao động, ý thức xem thường pháp luật, l i s ng thích hưởng thụ, chỉ biết s ng cho bản thân, bị cáo su t ngày say sỉn nên khi mu n có tiền và tài sản tiêu xài mà không phải bỏ ra nhiều công sức lao động, bị c o đã lợi dụng sự sơ hở của các bị hại trong việc quản lý tài sản, trong khoảng thời gian từ ngày từ ngày 08/4/2017 đến ngày 12/5/2017 ị c o đã liên tiếp thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt các tài sản của c c người bị hại g m: ông Nguyễn Văn B1, chị Lê Thị Minh T2, chị Nguyễn Thị P2 để r i một lần nữa đi vào con đường phạm tội.

Từ những phân tích trên cho thấy, hành vi của bị cáo là đủ yếu t cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự. Do đó, ị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

Điều 138 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Ngư i nào trộm cắp tài sản của ngư i khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới nă ươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiế đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiế đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba nă hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba nă .”

Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi của bị cáo là táo bạo liều lĩnh, thể hiện sự xem thường pháp luật, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo nhận tội, không tranh luận, không bào chữa. Xét thấy, ph t iểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đ ng xét xử xét thấy cần xử lý nghiêm, bắt bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân t t, có ý thức chấp hành pháp luật, tôn trọng tài sản của người khác, nhằm răn đe và phòng ngừa chung.

Trợ giúp viên ông Nguyễn Qu c T1 bào chữa cho bị cáo Trần Phước H trình bày: Tại phiên tòa, ị c o khai nhận toàn ộ hành vi phạm tội nên Viện kiểm s t truy t ị c o H về tội “Trộm cắp tài sản” theo Khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Hình sự là đúng quy định. Tuy nhiên, nguyên nhân phạm tội do là bị cáo hạn chế nhận thức và điều khiển hành vi do sử dụng rượu, tại phiên tòa ị c o thành thật khai o, ăn năn h i cải, tài sản hoàn trả cho các bị hại xong, người bị hại có đơn ãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị c o có người thân tham gia cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kh ng chiến hạng Nhì, tại thời điểm phạm tội bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên sự nhận thức ph p luật có phần hạn chế. Do đó đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét p dụng c c tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm n, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo và xử phạt bị cáo 09 tháng tù.

Qua lời ào chữa của vị trợ giúp viên, Hội đ ng xét xử xét thấy: vị trợ giúp viên đề nghị c c tình tiết giảm nhẹ cho ị c o theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật Hình sự trong việc lượng hình là phù hợp nghĩ nên chấp nhận. Tuy nhiên vị trợ giúp viên đề nghị xử phạt bị cáo mức án 09 tháng tù là chưa phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên không chấp nhận theo đề nghị của vị trợ giúp viên.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy, trong qu trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn h i cải, tài sản đã thu h i, hoàn trả cho bị hại xong, người bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị c o có người thân tham gia cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Tại thời điểm phạm tội bị c o có năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng do ị bệnh lý tâm thần làm hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, vì vậy cần áp dụng Điểm n, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần mức hình phạt đ i với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết và xử lý xong.

Về án phí: Bị c o Trần Phước H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Phước H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Khoản 1 Điều 138, Điểm n, p Khoản 1, Khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Trần Phước H mức án 10 tháng tù (Mười tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết và xử lý xong.

Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật T tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết về n phí, lệ phí Tòa n năm 2016:

Bị c o Trần Phước H nộp 200.000 đồng n phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án, bị cáo, người bào chữa cho bị c o, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bị hại, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Tháp.

Riêng người bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ