vanban.org

Bản án 44/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội "Đánh bạc".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2026 (được trừ đi 09 ngày tạm giữ từ ngày 22/3/2026- 30/3/2026) Về hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn A - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội "Đánh bạc".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8- HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2026/HS-ST
Ngày: 29/4/2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quang Minh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mạc Văn Mùa và bà Nguyễn Thị Hằng

- Thư ký phiên toà: Ông Mai Văn Việt - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Long - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm - Trụ sở Tòa án nhân khu vực 8 - Hải Phòng và điểm cầu thành phần - Trại tạm giam số 2- Công an thành phố H mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 39/2026/TLST-HS ngày 25/3/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2026/QĐXXST-HS ngày 15/4/2026, đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 03/3/1987; căn cước công dân số: 001087000312; Nơi cư trú: Số A ngách A phố chợ K, phường V- Q, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Trọng L (đã chết) và bà Phạm Thị M; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20 ngày 09/01/2007 của Công an thành phố H, tỉnh Hải Dương (cũ) xử phạt bị cáo số tiền 500.000đ về hành vi đánh bạc, bị cáo nộp phạt ngày 09/01/2007.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/3/2016 đến ngày 30/3/2016 (09 ngày) sau đó chuyển biện pháp ngăn chặn. Bị cáo tiếp tục bị tạm giữ từ ngày 06/01/2026, chuyển tạm giam từ ngày 09/01/2026 đến nay tại Trại tạm giam số 02 Công an thành phố H. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Đinh Văn T, sinh năm 1978; anh Vương Quốc S, sinh năm 1987; anh Vương Văn Q, sinh năm 1984; anh Vương Văn H, sinh năm 1988; anh Vương Văn G, sinh năm 1972 và anh Ngô Văn B, sinh năm 1987. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Thành phần tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành phần:

+ Ông Nguyễn Quang D - Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 8- Hải Phòng

+ Bà Trần Thị Hải Y - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng.

+ Ông Vũ Văn H1 và ông Nguyễn Huy T1 - Cán bộ Trại tạm giam số 2-Công an thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 21/3/2016 Nguyễn Tuấn A cùng với Đinh Văn T sinh năm 1978 trú tại thôn K, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay là TDP K, phường T, thành phố Hải Phòng) đến khu vực chuyển đổi nuôi thuỷ sản tại thôn K, xã T chơi. Tại đây, cả hai gặp Vương Quốc S sinh năm 1987, Vương Văn Q sinh năm 1984, Vương Văn H sinh năm 1988, Vương Văn G sinh năm 1972, Ngô Văn B sinh năm 1987, Vương Văn D1 sinh năm 1987, Đinh Đức C sinh năm 1981 và Vương Văn K sinh năm 1982 đều trú tại thôn K, xã T. Tất cả rủ nhau đến lều cá không có người trông coi của anh Đàm Văn T2 sinh năm 1973 ở trong khu chuyển đổi để đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa. Tuấn A lấy 01 bát sứ, 01 đĩa sứ và 01 chiếc chăn chiên có sẵn trong lều trải để mọi người ngồi đánh bạc. Quyền lấy trong người ra 04 quân vị đưa cho Tuấn A để Tuấn A cầm cái. Lúc này Đinh Đức T3 sinh năm 1969, Vương Văn B1 sinh năm 1976, Vương Văn S1 sinh năm 1977 và Vương Văn U sinh năm 1973 đều trú tại thôn K, xã T cũng đến chơi. Tuấn A cầm cái được một lúc thì bị thua hết số tiền 1.400.000 đồng nên đã hỏi vay của Vương Văn U số tiền 2.000.000 đồng để tiếp tục đánh bạc, U đồng ý thì Tuấn A để lại chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha biển số 34D1-118.26 để làm tin. Cả nhóm đánh bạc đến khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H (nay là Công an thành phố H) phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 bát sứ, 01 đĩa sứ, 04 quân vị, 01 chiếc chăn chiên và số tiền cả nhóm dùng đánh bạc là 9.590.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Tuấn A bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay là Công an thành phố H) đã ra Quyết định truy nã số 07 ngày 16/5/2016. Ngày 06/01/2026, bị cáo Nguyễn Tuấn A đã đến Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSKV8, ngày 19/3/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Hải Phòng truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A, phạm tội “Đánh bạc”;

Về điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 09- 12 tháng tù, được trừ 09 ngày tạm giữ, thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2026.

Về hình phạt bổ sung: Không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong trong vụ án khác.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ 21 giờ đến 22 giờ 10 phút ngày 21/3/20216 tại lều trông cá của anh Đàm Văn T2 ở thôn K, xã T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay là phường T, thành phố Hải Phòng); Nguyễn Tuấn A cùng với Đinh Văn T, Vương Quốc S, Vương Văn Q, Vương Văn H, Vương Văn G, Ngô Văn B, Vương Văn D1, Đinh Đức C, Vương Văn K, Đinh Đức T3 và Vương Văn B1 đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh xóc đĩa với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 9.590.000 đồng thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H (nay là Công an thành phố H) phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Trong vụ án này bị cáo thực hiện hành vi với vai trò đồng phạm thực hành tích cực.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào trật tự quản lý Nhà nước, gây mất trật tự trị an, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi vẫn cố ý thực hiện. Tổng số tiền bị cáo và những người khác dùng vào việc đánh bạc là 9.590.000đ. Nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ. Trong vụ án này, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trước và bị đưa ra xét xử sau thời điểm Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực thi hành. Tuy nhiên, tại Điều 321 Bộ luật hình sự 2015 là điều luật quy định mức khởi điểm của các khung hình phạt cao hơn mức khởi điểm của các khung hình phạt quy định tại Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999. Do vậy, HĐXX sẽ áp dụng quy định tại Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 là điều khoản có lợi cho bị cáo khi xét xử.

. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu do đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính vào năm 2007. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi bỏ trốn đã đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Cân nhắc tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng, chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về vật chứng: Đối với vật chứng của vụ án đã được giải quyết tại Bản án số 112 ngày 26/7/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8- Hải Phòng) nên không đặt ra giải quyết. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha biển số 34D1-118.26 bị cáo mượn của chị Phùng Thị T4, chị T4 không biết việc bị cáo mượn xe để sử dụng vào việc phạm tội nên không xem xét xử lý.

. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

. Về vấn đề khác: Đối với Đinh Văn T, Vương Quốc S, Vương Văn Q, Vương Văn H, Vương Văn G, Ngô Văn B, Vương Văn D1, Đinh Đức C, Vương Văn K, Đinh Đức T3 và Vương Văn B1 đã bị xét xử tại Bản án số 112 ngày 26/7/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 8- Hải Phòng) nên không xem xét xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội "Đánh bạc".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2026 (được trừ đi 09 ngày tạm giữ từ ngày 22/3/2026- 30/3/2026)

3. Về hình phạt bổ sung và xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/4/2026)./.

Cỡ chữ