- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Huy L - CĐP - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐT TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2023/HS - ST Ngày 22 - 6 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐT, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Như Quỳnh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Giới
Ông Trần Văn Nam
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2023/TLST - HS ngày 24 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn H1 L, sinh ngày: 26/5/1990, tại thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: thôn ĐS, xã YS, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H1 L1 và bà Trần Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 19/11/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Vũ Văn H, sinh ngày: 04/4/1991, tại thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: thôn TT, xã HTĐ, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn Khôi và bà Nguyễn Thị Th; vợ: Phạm Thị Hồng D, con: có 01 con, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 19/11/2022, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Trần Quốc H1, sinh ngày: 21/11/1997, tại thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: thôn ĐS, xã YS, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H1nh và bà Nguyễn Thị C; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 19/11/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Nguyễn Văn D, sinh ngày: 02/11/1989, tại thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu QL, phường HQ, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Ngô Thị D; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, giữ trong trường hợp khẩn cấp ngày 19/11/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Chị Ngô Thị Th2, sinh năm: 1991; địa chỉ: khu YH, phường YT, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt
* Người làm chứng: chị Bạc Thị L, có mặt; bà Nguyễn Thị Th2, vắng mặt
* Người chứng kiến: ông Nguyễn Công Ch; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn H1 L, Nguyễn Văn D, Trần Quốc H1 và Vũ Văn H là bạn quen biết xã hội. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 19/11/2022, khi đang ăn sáng tại khu QL, phường HQ, thị xã ĐT, lúc này L rủ D và H1 góp tiền mua ma túy về cùng sử dụng thì D và H1 đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16N5
- 4890 chở D đi đến cửa hàng Quốc Cường Mobile, gặp chị Ngô Thị Th, cầm cố chiếc điện thoại di dộng Iphone 6, màu trắng của D được 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Sau đó, L gặp và vay một người đàn ông tên Nam (là bạn của L, nhưng không rõ lai lịch, địa chỉ) 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) rồi nhờ anh Nam chuyển toàn bộ số tiền 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) vào tài khoản ngân hàng Sacombank của L. Sau khi nhận được tiền, L chở D đến quán bán hàng nước ở khu vực bến phà Đụn, thuộc xã YS, thị xã ĐT. Tại đây, L tiếp tục gọi điện thoại rủ Vũ Văn H sử dụng ma túy cùng mọi người, thì H đồng ý và bảo L đến đón H ở phường, thị xã ĐT
Sau khi quay về, biết H1 đợi lâu cũng như không thấy L và D mua ma túy mang về nên H1 đi sang H1ện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng làm việc, do không gặp được H1 nên L bảo H gọi điện thoại bảo H1 mua ma túy cho cả nhóm sử dụng. H gọi điện thoại cho H1, bảo mua 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), ma túy loại Methamphetamine thì H1 đồng ý. Do xe của H1 hết xăng nên H1 bảo lấy 100.000đ (một trăm nghìn đồng) đổ xăng còn 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) mua ma túy thì H đồng ý. Thống nhất xong H trao đổi lại với L, thì L cH1ển 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) vào tài khoản ngân hàng MBbank của H1. Sau đó, H bảo L và D đi về nhà bà Nguyễn Thị Th2 (là nhà của mẹ đẻ H) chờ H1 cầm ma túy về thì cả nhóm sử dụng tại phòng ngủ của H. Khi về đến nhà, H lấy sẵn ra 01 (một) bộ đồ sử dụng ma túy gồm: cóong thủy tinh, chai nhựa và ống hút, để trên giường.
Đến khoảng 14 giờ (cùng ngày), H1 điều khiển xe mô tô mang theo ma túy đến nhà H. Tại đây, H1 lấy trong người ra 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine đổ ra tờ tiền 10.000đ, sau đó dồn hết số ma túy này vào cóong thủy tinh, cầm bật lửa hơ đốt nóng và đưa cho H sử dụng trước, tiếp theo là L, H1 và D cùng nhau sử dụng. Sau khi đã sử dụng hết số ma túy này, H cất bộ sử dụng ma túy ở cửa sổ, chiếc vỏ túi nilon thì giấu trong hộp kim loại, màu vàng – xanh để ở trên giường. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thị xã ĐT đến kiểm tra thì phát hiện thấy L, H, H1 và D có biểu hiện sử dụng ma túy.
Vật chứng thu giữ: tại mặt giường phòng ngủ của H 01 (một) hộp kim loại, đường kính 19cm, cao 09cm, màu vàng – xanh, bên trong có 01 (một) vỏ túi nilon kích thước (02x2,5)cm bám dính chất tinh thể màu trắng và 01 (một) bật lửa ga, màu đỏ; tại thành cửa sổ cạnh giường 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng, kích thước (01x02x08)cm bên trong có 01 (một) cóong thủy tinh, 01 (một) nắp nhựa có 02 (hai) lỗ và 01 (một) ống hút nhựa màu trắng và 01 (một) vỏ chai nước khoáng thiên nhiên, nhãn hiệu Quang Hanh.
Ngoài ra, còn thu giữ của Nguyễn H1 L 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu đen, gắn sim số 0339.260.590; của Vũ Văn H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, gắn sim số 0868.474.970; của Trần Quốc H1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh, gắn sim số 0978.068.714 và chị Ngô Thị Th giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng, không gắn sim.
Tại các bản kết luận giám định số 1890/KL-KTHS ngày 25/11/2022 và số 1900/KL-KTHS ngày 29/11/2022, của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: chất bột màu trắng dạng vết (ký hiệu M1) trong túi nilon và vết màu xám đen (ký hiệu M2) trong ống thủy tinh là ma túy, loại Methamphetamine, dạng vết không xác định được khối lượng; không tìm thấy chất ma túy trên tờ tiền Việt Nam loại 10.000đ (mười nghìn đồng), mã số YL 06657001; tờ giấy bạc tiền ngân hàng Việt Nam loại 10.000đ (mười nghìn đồng), mã số YL 06657001 là tiền thật.
Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu ghi thu giữ của Nguyễn H1 L, Vũ Văn H, Trần Quốc H1 và Nguyễn Văn D.
Tại biên bản kiểm tra điện thoại của Trần Quốc H1, xác định: trong ứng dụng MBBank có lịch sử giao dịch ngày 19/11/2022, thời điểm 13:04:00 nội dung “+500.000 VNĐ…”; thời điểm 13:07:00 “-500.000 VNĐ). Không đăng nhập ứng dụng Zalo và Viettel Money do Trần Quốc H1 không nhớ mật khẩu đăng nhập.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn H1 L, Vũ Văn H, Trần Quốc H1 và Nguyễn Văn D đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Về nguồn gốc số ma túy Methamphetamine Trần Quốc H1 khai: khoảng 13 giờ ngày 19/11/2022, sau khi sang thành phố Hải Phòng để đi làm, nhưng do muộn giờ nên H1 không đến chỗ làm mà đi về phòng trọ của chị Bạc Thị L, sinh năm 1997, ở xã Thủy Sơn, H1ện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Tại đây, H1 nhận được điện thoại của H gọi bảo mua ma túy về cả nhóm sử dụng và được L cH1ển cho 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), H1 có mượn điện thoại của chị L, cH1ển 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) từ tài khoản ngân hàng vào tài khoản ứng dụng Viettel Money của H1, rồi H1 gọi điện cho một người tên “Thược” hỏi mua ma túy thì Thược gửi cho H1 số điện thoại của Thủy bảo H1 liên hệ để mua ma túy. H1 gọi điện thoại cho Thủy hỏi mua ma túy và cH1ển 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng) từ tài khoản Viettel Money của H1 vào tài khoản của Thủy, cH1ển tiền xong Thủy hướng dẫn H1 đi đến địa điểm của một nhà dân ở H1ện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng để lấy ma túy. Khi đến nơi, H1 đứng trước cửa nhà bấm chuông thì được một người trong nhà đưa qua kẽ dưới cửa cuốn ra ngoài 01 (một) túi nilon, H1 biết bên trong túi nilon là ma túy nên cầm và cất giấu trong người rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà H để cả nhóm cùng pha chế sử dụng.
Ngoài ra, tại phiên tòa:
Bị cáo Vũ Văn H khai: sau khi bị cáo gọi cho H1 để nhờ mua ma túy, H1 bảo cH1ển cho H1 500.000 đồng, trong đó H1 sử dụng số tiền 100.000 đồng để đổ xăng và dùng 400.000 đồng mua ma túy mang về mọi người sử dụng. Do trời mưa nên bị cáo rủ mọi người về nhà bị cáo sử dụng ma túy. Bị cáo cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy như cóong thủy tinh, ống hút nhựa, chai nhựa. Việc bị cáo rủ L, H1 và D về nhà sử dụng ma túy, mẹ bị cáo không biết.
Người chứng kiến ông Nguyễn Công Ch vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra: khoảng 16 giờ 20 phút ngày 19/11/2022, ông được Cơ quan Công an mời đến nhà bà Nguyễn Thị Thu tại tổ 2, khu Tràng Bạch, phường HQ, thị xã ĐT để chứng kiến Cơ quan Công an lập biên bản kiểm tra hành chính. Tại phòng ngủ nhà bà Thu, ông thấy có 04 (bốn) thanh niên có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản, thu giữ những đồ vật liên quan đến hành vi sử dụng ma túy của các thanh niên và đưa những người liên quan về trụ sở làm việc.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Ngô Thị Th vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra và đơn xin xử vắng mặt như sau: chị là chủ cửa hàng Quốc Cường Mobile, có địa chỉ tại phường Yên Thọ, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh. Ngoài việc sửa chữa điện thoại di động, chị còn nhận cầm cố điện thoại có giá trị dưới 20 triệu đồng. Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 19/11/2022, chị đang ở cửa hàng thì có hai nam thanh niên đến và nói có nhu cầu cầm đồ điện thoại di động. Một nam thanh niên đưa cho chị 01 điện thoại di động Iphone 6 màu trắng, chị báo giá cầm đồ cho thanh niên đó là 400.000 đồng. Chị hỏi tên và biết thanh niên đó tên Diện, nên chị ghi vào mặt sau của điện thoại “19/11/2022 400K Diện” và đưa cho Diện 400.000 đồng. Hiện nay chị đã giao nộp chiếc điện thoại cho cơ quan điều tra và không yêu cầu bị cáo phải trả lại tiền cho chị.
Tại Cáo trạng số: 26/CT- VKS - ĐT ngày 20 - 3 - 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã ĐT truy tố các bị cáo Nguyễn H1 L, Vũ Văn H, Trần Quốc H1 và Nguyễn Văn D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã ĐT tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn H1 L từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (năm) tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 19 tháng 11 năm 2022.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn H, Nguyễn Văn D mỗi bị cáo từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 19 tháng 11 năm 2022.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Quốc H1 từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 19 tháng 11 năm 2022.
- Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu cho tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong số 1890/KL - KTHS ngày 25/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) hộp sắt bằng kim loại, màu vàng – xanh; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ; 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng; 01 (một) cóong thủy tinh; 01 (một) nắp nhựa có 02 lỗ; 01 (một) ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) vỏ chai nước khoàng thiên nhiên Quang Hanh; các sim số: 0339.260.590; 0868.474.970; 0978.068.714
+ Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng hoàn lại sau giám định, đựng trong phong bì niêm phong số 1900/KL - KTHS ngày 29/11/2022; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen của bị cáo Nguyễn H1 L; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng của bị cáo Nguyễn Văn D; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, màu xám của bị cáo Vũ Văn H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh của bị cáo Trần Quốc H1
Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã ĐT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc định tội đối với bị cáo: lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến với biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã ĐT, lập hồi 19 giờ 05 phút ngày 19/11/2022 tại tổ 2, khu Tràng Bạch, phường HQ, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, với sơ đồ hiện trường, bản ảnh kèm theo biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, với vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 12 ngày 19/11/2022, tại khu Tràng Bạch, phường HQ, thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn H1 L, Nguyễn Văn D có hành vi cùng nhau góp tiền để Trần Quốc H1 đi đến khu vực H1ện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, mua 01 (một) túi ma túy, loại Methamphetamine với giá 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, Vũ Văn H có hành vi chuẩn bị bộ dụng cụ sử dụng ma túy, rồi H1 pha chế, sau đó H, L, H1 và D lần lượt sử dụng ma túy tại phòng ngủ của H thì bị Công an phát hiện bắt, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn H1 L, Vũ Văn H, Trần Quốc H1 và Nguyễn Văn D đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Các bị cáo là người trưởng thành, có khả năng nhận thức được tác hại của ma túy, biết hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy, cung cấp chất ma túy cho người khác sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội.
Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Nguyễn H1 L là người khởi xướng, rủ các bị cáo Trần Quốc H1 và Nguyễn Văn D chung tiền mua ma túy về sử dụng, chở D để D mang điện thoại đi cầm cố lấy tiền mua ma túy. Bị cáo L còn là người trực tiếp gọi cho Vũ Văn H và đón H về để sử dụng ma túy cùng nhau, bảo H gọi điện cho H1 mua ma túy nên bị cáo L là người có vai trò cao nhất và chịu mức hình phạt cao nhất trong vụ án này. Tiếp đến là vai trò của các bị cáo Trần Quốc H1, Vũ Văn H và Nguyễn Văn D. H1 là người trực tiếp mua ma túy từ Hải Phòng về, chế biến ma túy cho mọi người sử dụng, H là người gọi điện cho H1 mua ma túy, cung cấp công cụ sử dụng ma túy như cóong thủy tinh, chai nhựa và ống hút, đổ ma túy vào cóong thủy tinh. D trực tiếp mang điện thoại của mình đi cầm cố lấy tiền mua ma túy cho mọi người cùng sử dụng nên các bị cáo có vai trò tương đương nhau.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: các bị cáo không có tiền án, tiền sự;
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Trần Quốc H1 do có thời gian phục vụ trong quân đội nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào nhân thân, hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo cũng như những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy bị cáo Nguyễn H1 L do là người khởi xướng, rủ các bị cáo chung tiền mua ma túy sử dụng cùng nhau nên phải chịu mức hình phạt cao nhất, trên mức khởi điểm của khung hình phạt. Bị cáo Trần Quốc H1 mặc dù có vai trò tích cực, trực tiếp tìm mua ma túy, chế biến ma túy cho mọi người cùng sử dụng nhưng bị cáo H1 có thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cần xử phạt các bị cáo Trần Quốc H1, Vũ Văn H và Nguyễn Văn D ở mức khởi điểm của khung hình phạt cũng đủ giáo dục các bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn; 01 (một) hộp sắt bằng kim loại, màu vàng - xanh; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ; 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng; 01 (một) cóong thủy tinh; 01 (một) nắp nhựa có 02 lỗ; 01 (một) ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) vỏ chai nước khoáng thiên nhiên Quang Hanh; các sim số: 0339.260.590; 0868.474.970; 0978.068.714 là công cụ các bị cáo dùng thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
- 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng hoàn lại sau giám định, đựng trong phong bì niêm phong số 1900/KL - KTHS ngày 29/11/2022; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen của bị cáo Nguyễn H1 L; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng của bị cáo Nguyễn Văn D; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, màu xám của bị cáo Vũ Văn H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh của bị cáo Trần Quốc H1 liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước. Xét các bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về các vấn đề khác:
Đối với đối tượng tên “Th4” và “Th3” là người theo H1 khai bán ma túy cho H1. Quá trình điều tra, không làm rõ được nhân thân, lai lịch nên không đề cập xử lý.
Việc Vũ Văn H dùng địa điểm (phòng ngủ) tại nhà bà Nguyễn Thị Thu (mẹ đẻ của H) đang quản lý để H cùng L, H1 và D tổ chức sử dụng ma túy. Quá trình điều tra xác định bà Thu không biết việc H cùng L, H1 và D tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng ngủ nhà bà Thu, nên không đề cập xử lý.
Việc chị Bạc Thị L là người cho Trần Quốc H1 mượn điện thoại để thực hiện giao dịch cH1ển tiền, quá trình điều tra xác định chị L không biết việc H1 mượn để thực hiện hành vi phạm tội, cũng như đối tượng Nam cho Nguyễn H1 L vay 500.000đ để L mua ma túy hiện cũng chưa xác định được lý lịch, địa chỉ nên không đề cập xử lý.
Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn H1 L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 19 tháng 11 năm 2022.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Quốc H1 07 (bảy) năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 19 tháng 11 năm 2022.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Văn H 07 (bảy) năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 19 tháng 11 năm 2022.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 07 (bảy) năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 19 tháng 11 năm 2022.
2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu cho tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong số 1890/KL - KTHS ngày 25/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) hộp sắt bằng kim loại, màu vàng – xanh; 01 (một) bật lửa ga màu đỏ; 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng; 01 (một) cóong thủy tinh; 01 (một) nắp nhựa có 02 lỗ; 01 (một) ống hút nhựa màu trắng; 01 (một) vỏ chai nước khoáng thiên nhiên Quang Hanh; các sim số: 0339.260.590; 0868.474.970; 0978.068.714
+ Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 (một) phong bì niêm phong số 1900/KL - KTHS ngày 29/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus, màu đen của bị cáo Nguyễn H1 L; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu trắng của bị cáo Nguyễn Văn D; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S, màu xám của bị cáo Vũ Văn H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh của bị cáo Trần Quốc H1
(Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 45 ngày 23 tháng 3 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã ĐT và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã ĐT, tỉnh Quảng Ninh).
3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Nguyễn H1 L, Vũ Văn H, Trần Quốc H1 và Nguyễn Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./ Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
(đã ký)
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
- Cơ quan điều tra CA thị xã ĐT;
- Cơ quan THAHS CA thị xã ĐT;
- Chi cục THA DS thị xã ĐT;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
Trần Thị Như Quỳnh
- TTG Công an tỉnh Quảng Ninh (nơi tạm giam bị cáo);
- NTG Công an thị xã ĐT (nơi tạm giam bị cáo);
- Lưu: hồ sơ, VP.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
- Cơ quan điều tra CA thị xã ĐT;
- Cơ quan THAHS CA thị xã ĐT;
- Chi cục THA DS thị xã ĐT;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
Trần Thị Như Quỳnh
- TTG Công an tỉnh Quảng Ninh (nơi tạm giam bị cáo);
- NTG Công an thị xã ĐT (nơi tạm giam bị cáo);
- Lưu: hồ sơ, VP.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
- Cơ quan điều tra CA thị xã ĐT;
- Cơ quan THAHS CA thị xã ĐT;
- Chi cục THA DS thị xã ĐT;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
- NTG Công an thị xã ĐT (nơi tạm giam bị
Trần Thị Như Quỳnh cáo);
- Lưu: hồ sơ, VP.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
- Cơ quan điều tra CA thị xã ĐT;
- Cơ quan THAHS CA thị xã ĐT;
- Chi cục THA DS thị xã ĐT;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
Trần Thị Như Quỳnh
- NTG Công an thị xã ĐT (nơi tạm giam bị cáo);
- Lưu: hồ sơ, VP.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
- Cơ quan điều tra CA thị xã ĐT;
- Cơ quan THAHS CA thị xã ĐT;
- Chi cục THA DS thị xã ĐT;
Trần Thị Như Quỳnh
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
- TTG Công an tỉnh Quảng Ninh;
- Lưu: hồ sơ, VP.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- Viện kiểm sát nhân dân thị xã ĐT;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
- Cơ quan điều tra Công an thị xã ĐT;
- Cơ quan THAHS Công an thị xã ĐT;
- Chi cục THA DS thị xã ĐT;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
Trần Thị Như Quỳnh
- Nhà tạm giữ Công an thị xã ĐT;
- Lưu hồ sơ, VP./.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Như Quỳnh Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Quảng Ninh;
- Viện kiểm sát nhân dân Thị xã ĐT;
- Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
- Công an Thị xã ĐT;
- Chi cục THA DS Thị xã ĐT;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
Trần Thị Như Quỳnh
- TTG Công an tỉnh Quảng Ninh
- Lưu hồ sơ, VP./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - TAND tỉnh Quảng Ninh; - Viện kiểm sát nhân dân Thị xã ĐT; - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh; - Công an Thị xã ĐT; - Chi cục THA DS Thị xã ĐT; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - TTG Công an tỉnh Quảng Ninh - Lưu hồ sơ, VP./. HỘI THẨM NHÂN DÂN Trần Hữu Trung Lưu Xuân Giới | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Như Quỳnh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Như Quỳnh |