- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Đình V - Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phương Đình V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ----------------- Bản án số:44/2023/HS - ST Ngày 31/03/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:
Ông Ngô Minh Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Bích Vân
2. Ông Nguyễn Hữu Đệ
- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Luân – Kiểm sát viên.
Ngày 31/03/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 37/2023/TLST-HS ngày 15/03/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 03 năm 2023, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Phƣơng Đình V; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1997 tại Cao Bằng; Nơi cư trú: BG, xã ĐT, huyện TK, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 7/12; Con ông: Phương Đình K (Đã chết); Con bà: Nông Thị T, sinh năm 1974; Theo danh bản, chỉ bản số 16 lập ngày 22/12/2022 tại Công an huyện Đông Anh thì bị cáo Phương Đình V không có tiền án, tiền sự. Bị cáo Phương Đình V bị bắt tạm giam từ ngày 18/12/2022 (Có mặt tại phiên tòa).
2. Người bị hại: Công ty TNHH một thành viên thương mại TBĐ HN; trụ sở: Tầng 4, số 17, LK6C, NVL, phường ML, quận HĐ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Chung Quang H - Giám đốc (Vắng mặt tại phiên tòa).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Tổ 9 thị trấn ĐA, huyện ĐA, thành phố Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).
3.1. Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn MT, xã CL, huyện ĐA, thành phố Hà Nội (Vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 18/12/2022, ông Chung Quang H (Giám đốc Công ty TNHH một thành viên thương mại TBĐ HN; có cơ sở sản xuất tại Tổ 47 thị trấn ĐA, huyện ĐA, thành phố Hà Nội) đến Công an huyện Đông Anh trình báo về việc bị trộm cắp phôi đồng thành phẩm (linh kiện để lắp vào ổ cắm điện). Ông H có nghi ngờ cho Phương Đình V là công nhân của Công ty là người đã trộm cắp số tài sản trên.
Căn cứ vào các tài liệu điều tra thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đông Anh đã xác định được như sau: Vào khoảng tháng 4/2022, Phương Đình V được ông Chung Quang H nhận vào làm việc tại Công ty Hoa Nam, Hùng được giao quản lý kho xưởng sản xuất và kiêm công nhân của công ty. Hàng ngày V trực tiếp sản xuất các linh kiện để lắp vào ổ cắm điện bằng đồng vàng và hướng dẫn các học viên thực hành tại xưởng của Công ty, hết giờ làm thì V dọn và khóa cửa nhà xưởng. Đến khoảng giữa tháng 10/2022, Ông H và V chốt lại khối lượng linh kiện thành phẩm là 377kg, số linh kiện này được cất trong các thùng sơn tại xưởng của công ty. Quá trình làm việc tại công ty, V phát hiện thấy Ông H quản lý tài sản sơ hở nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng.
Vào khoảng 17h30’ ngày 09/12/2022, sau khi hết giờ làm việc lợi dụng không có người V đã bốc trộm 10kg phôi đồng thành phẩm đựng vào trong 01 bao tải màu trắng rồi sử dụng xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát: 29L5 - 022.99 của V chở đến bán cho chị Nguyễn Thị T tại cửa hàng thu mua phế liệu của chị (tổ 9 thị trấn ĐA, huyện ĐA) với giá 1.100.000đ. Khi chị T hỏi về nguồn gốc tài sản thì V vờ nói “đồng này là của em, em thừa nên mang bán”.
- Trong tháng 10/2022 (không nhớ thời gian cụ thể), V đã trộm cắp khoảng 6
- 7 lần, mỗi lần trộm cắp 10kg linh kiện thành phẩm. Số tài sản trộm cắp được, V đều mang bán cho chị Nguyễn Thị T với giá 110.000đ/1kg. Tại Biên bản làm việc với Phương Đình V xác định số linh kiện thành phẩm V chiếm đoạt trong thời gian tháng 10/2022 là khoảng 70kg, trị giá là 22.400.000đ.
- Trong tháng 11/2022 (không nhớ thời gian cụ thể), cứ cách khoảng 2 - 3 ngày V lại trộm cắp một lần (khoảng 03 lần trộm cắp 20kg/lần, 04 lần trộm cắp 15kg/lần và những lần còn lại là 10kg/lần). Số tài sản trộm cắp được V đều mang bán cho chị Nguyễn Thị T với giá 110.000đ/1kg. Tại Biên bản làm việc với Phương Đình V xác định khối lượng linh kiện thành phẩm V chiếm đoạt trong thời gian tháng 11/2022 là khoảng 170kg, trị là 54.400.000đ.
- Trong thời gian đầu tháng 12/2022 (không nhớ thời gian cụ thể), V đã trộm cắp khoảng 03 lần, mỗi lần trộm cắp 10kg linh kiện thành phẩm. Số tài sản trộm cắp được, V mang bán cho chị Nguyễn Thị T 02 lần và bán cho anh Nguyễn Tiến D (sinh năm 1994 tại thôn MT, xã CL, huyện ĐA) 01 lần với giá 110.000đ/1kg. Khi bán tài sản trộm cắp cho anh Dũng, V cũng vờ nói nguồn gốc tài sản là của V. Tại Biên bản làm việc với Phương Đình V xác định khối lượng linh kiện thành phẩm V chiếm đoạt trong thời gian tháng 12/2022 là 30kg, trị giá là 9.600.000đ.
Ngày 15/12/2022, ông Chu Quang H phát hiện thấy các thùng đựng linh kiện thành phẩm bị vơi nhiều nên đã cùng V kiểm tra lại thì phát hiện bị trộm cắp khoảng 272kg. Sau đó Ông H đã đến Cơ quan Công an huyện Đông Anh trình báo sự việc.
* Tạm giữ của Phương Đình V: Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 25.000 đồng; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda Wave , biển số 29L5 – 022.99, màu xám – đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S, màu trắng, gắn số thuê bao 0394672374; 01 Bản sao giấy khai sinh tên Phương Đình V.
* Tạm giữ của chị Nguyễn Thị T: 30kg phôi đồng thành phẩm (linh kiện để lắp vào ổ cắm điện) và 01 bao tải dứa màu trắng có in dòng chữ POLYCHEMS; 01 điện thoại di động nokia màu đỏ, gắn số thuê bao 0972535077
Tại bản kết luận định giá tài sản số 07 ngày 12/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đông Anh kết luận: Trị giá 272 kg linh kiện bằng đồng = 87.040.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra Phương Đình V khai số tiền có được do bán tài sản trộm cắp đã tiêu xài cá nhân và mua ma túy Heroine sử dụng cho bản thân, còn lại 25.000đ V giao nộp lại cho Cơ quan Công an huyện Đông Anh.
Tại cơ quan điều tra, chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Tiến D khai nhận khi giao dịch mua bán tài sản V nói là tài sản của V. Sau khi mua số tài sản trên từ V, chị T và anh Dũng đã bán lại cho khách qua đường không rõ nhân thân lai lịch. Chị T còn giữ lại 30kg linh kiện bằng đồng, thành phẩm mua của V chưa bán được nên đã giao nộp lại cho Cơ quan Công an. Đối với chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Tiến D, kết quả điều tra xác định không liên quan đến hành vi vi phạm của Dũng nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với việc V khai nhận có đi mua ma túy loại Heroine để sử dụng cá nhân, do V khai không nhớ địa điểm mua ma túy, không biết nhân thân lai lịch của đối tượng đã bán ma túy cho V nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.
Đối với 30kg phôi đồng thành phẩm dựng trong bao tải dứa màu trắng có in dòng chữ POLYCHEMS (tạm giữ của chị T), kết quả điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Công ty TNHH một thành viên thương mại TBĐ HN. Ngày 09/02/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho đại diện Công ty số tài sản trên.
Đối với điện thoại di động Nokia 3310, vỏ màu đỏ (tạm giữ của chị T) là tài sản hợp pháp của chị T. Ngày 28/02/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả tài sản trên cho chị T.
Về dân sự: Công ty TNHH một thành viên thương mại TBĐ HN yêu cầu Phương Đình V bồi thường số tiền 77.440.000đ (tương đương với trị giá của 242kg linh kiện đồng thành phẩm bị chiếm đoạt không thu hồi được) và đề nghị xử lý nghiêm V theo quy định của pháp luật. Chị Nguyễn Thị T yêu cầu Phương Đình V bồi thường số tiền 3.300.000đ (tương đương với trị giá của 30kg linh kiện đồng thành phẩm đã mua của V).
Tại bản Cáo trạng 35/CT-VKS- ĐA ngày 13/03/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố bị cáo Phương Đình V ra trước Tòa án nhân dân huyện Đông Anh để xét xử về tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
…
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
…
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng đến 50.000.000đồng.”
Tại phiên toà:
Bị cáo Phương Đình V đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phương Đình V theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phương Đình V từ 36 - 40 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về phần dân sự: Buộc bị cáo Phương Đình V bồi thường cho công ty Hoa Nam và chị T số tài sản còn thiếu.
- Tịch thu sung công chiếc xe máy và chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra vụ án nên có căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2022 đến ngày 09/12/2022, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của Công ty TNHH một thành viên thương mại TBĐ HN, Phương Đình V đã nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là phôi đồng thành phẩm (linh kiện để lắp vào ổ cắm điện) tại Tổ 47 thị trấn ĐA, huyện ĐA, thành phố Hà Nội, cụ thể:
- Trong tháng 10/2022 V trộm cắp khoảng 06 - 07 lần, mỗi lần trộm cắp khoảng 10kg linh kiện thành phẩm. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 22.400.000đ.
- Trong thời gian tháng 11/2022, V trộm cắp khoảng 10 lần (03 lần trộm cắp khoảng 20kg/lần, 04 lần trộm cắp khoảng 15kg/lần và những lần còn lại là khoảng 10kg/lần) linh kiện thành phẩm. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 54.400.000đ.
- Trong khoảng thời gian đầu tháng 12/2022 và khoảng 17h30’ ngày 09/12/2022 ngày 09/12/2022, V đã trộm cắp khoảng 04 lần, mỗi lần trộm cắp khoảng 10kg linh kiện thành phẩm. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 9.600.000đ.
Tổng trị giá tài sản V chiếm đoạt là 87.040.000 đồng. Hành vi của Phương Đình V đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi của phạm tội của bị cáo Phương Đình V là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ do đó cần phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự. Bị cáo Phương Đình V phạm tội nhiều lần, chưa khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại vì vậy cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nữa mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự (phạm tội 02 lần trở lên).
Tình tiết giảm nhẹ : Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về phần dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho Công ty TNHH một thành viên thương mại TBĐ HN số tiền 77.440.000đ và chị Nguyễn Thị T số tiền 3.300.000đ.
Vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S, vỏ màu trắng, số tiền 25.000đ và 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 29L5 – 022.99 bị cáo V sử dụng để là công cụ, phương tiện phạm tội do đó cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phương Đình V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phương Đình V 38 (Ba mươi tám) tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày 18/12/2022.
3. Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
+ Buộc bị cáo Phương Đình V phải bồi thường cho Công ty TNHH một thành viên thương mại TBĐ HN số tiền 77.440.000đ và chị Nguyễn Thị T số tiền 3.300.000đ.
+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15S, vỏ màu trắng, số IMEI1: 861417053963975, số IMEI2:861417053963967, số thuê bao: 0394672347; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave , biển kiểm soát 29L5 – 022.99, màu xám - đen, số khung: RLHJC5262DY106046, số máy: JC52E1322365, không lắp gương chiếu hậu; 25.000 Việt Nam đồng (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 03 năm 2023 giữa Công an huyện Đông Anh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh và Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 17/03/2023).
+ Buộc bị cáo Phương Đình V phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm và 4.037.000 đ (Bốn triệu, không trăm ba mươi bảy nghìn đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản tống đạt hợp lệ; người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án về phần có liên quan.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND. Thành phố Hà Nội; - VKSND. huyện Đông Anh; - Công an huyện Đông Anh; - Bị cáo; - Người bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngô Minh Cường |