vanban.org

Bản án 44/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Trà Vinh Tuyên án 03/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 03/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng G.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2023/HS- ST, ngày 26/04/2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh. Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng G phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng G.
  • Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH
___________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2023/HS-PT
Ngày: 03-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành

Các Thẩm phán: Ông Ngô Đê

Bà Ngô Thị Kim Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Ngà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 44/2023/HSPT, ngày 09 tháng 6 năm 2023 do có kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng G đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2023/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

- Bị cáo có hán cáo: Trần Hoàng G, sinh ngày: 21/4/1995, tại tỉnh Trà Vinh; nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn U, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1968 (Đã chết); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/10/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Văn V, Trần Văn Chí Th, Nguyễn Minh T, Nguyễn Văn H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan do không có kháng cáo, không có kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 23-10-2022, Công an huyện C nhận được tin báo của quần chúng Nhân dân về việc một số đối tượng có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng hát số 3, quán Karaoke Y tọa lạc tại khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh của bà Phạm Thị U. Nhận được tin báo, Công an huyện C kết hợp Công an thị trấn C tiến hành kiểm tra địa điểm trên phát hiện bên trong phòng hát số 3 có các bị cáo Nguyễn Minh T, Trần Văn Chí Th, Nguyễn Văn V, Trần Hoàng G, Nguyễn Văn H, chị Võ Thị Kim L (sinh ngày 30-9-2006) và chị Huỳnh Bảo O đang có mặt tại đây. Qua kiểm tra làm việc, xác định 05 bị cáo T, Th, V, G, H có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Riêng chị L và chị O Cơ quan điều tra mời về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 21-10-2022, bị cáo V, Th, T cùng nhau chơi game tại một tiệm internet (không rõ hiệu tại quận B, thành phố Hồ Chí Minh thì bàn bạc và thống nhất mỗi người hùn tiền 1.000.000 đồng để mua ma túy cùng nhau sử dụng. Bị cáo V là người trực tiếp lên một trang web (không nhớ tên) để đặt mua ma túy. Bị cáo V sử dụng tiền cá nhân để mua ma túy trước, các bị cáo Th và T sẽ đưa tiền lại sau (đến khi bị bắt quả tang vẫn chưa trả lại tiền mua ma túy cho bị cáo V). Đến khoảng 18 giờ ngày 22-10-2022, bị cáo V nhận được điện thoại (không nhớ và không lưu số) của một người nam (không rõ họ tên, địa chỉ) với nội dung đã có ma túy và hẹn bị cáo V đến nhận ma túy tại một đường hẻm của quận B. Tại đây, bị cáo V nhận 01 túi ma túy khây và 02 viên ma túy kẹo với giá 2.600.000 đồng. Số tiền hùn còn lại các bị cáo cùng nhau tiêu xài hết. Sau khi nhận được ma túy, các bị cáo V, T, Th đến Bến xe miền Tây đón xe khách về huyện C, tỉnh Trà Vinh chơi.

Khoảng 11 giờ ngày 23-10-2022, 03 bị cáo V, Th, T hẹn gặp 02 bị cáo Nguyễn Văn H, Trần Hoàng G tại một quán nước (không rõ bảng hiệu) gần Bến xe huyện C. Khi đi, bị cáo H chở theo bạn là chị Võ Thị Kim L. Sau đó, cả nhóm thống nhất cùng nhau đi hát Karaoke tại quán Y. Khi đến nơi, tất cả vào phòng VIP 3 của quán để uống bia, hát và gọi thêm tiếp viên rót bia là chị Huỳnh Bảo O.

Quá trình uống bia và hát tại đây, do muốn sử dụng ma túy, nên bị cáo V lấy ra một túi nylon bên trong có chứa ma túy khây và 02 viên ma túy kẹo đưa cho bị cáo H, kêu bị cáo H nấu lên để cả nhóm cùng nhau sử dụng, thì bị cáo H đồng ý. Bị cáo H đổ một phần ma túy khây trong túi nylon lên tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 2.000 đồng có sẵn trên bàn (không xác định của ai) xếp đôi theo chiều dài của tờ tiền, rồi dùng bật lửa do bị cáo T cung cấp để hơ phía dưới và đổ ma túy ra cái dĩa màu trắng do bị cáo T mượn của quán đem vào (khi mượn không nói mục đích để sử dụng ma túy). Số ma túy khây còn lại bị cáo H cất giấu trên vách tường trong phòng hát để sử dụng sau. Lúc này, bị cáo G đưa cho bị cáo H 01 thẻ ATM bằng nhựa để bị cáo H cà và chia ma túy thành từng đường nhỏ để cả nhóm sử dụng. Bị cáo Th lấy ra một tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng cuộn tròn lại để làm dụng cụ hít ma túy. Những người cùng nhau sử dụng ma túy gồm các bị cáo V, Th, T, H, G và chị Võ Thị Kim L, riêng chị Huỳnh Bảo O không sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy khây xong, bị cáo H tiếp tục cà nát 02 viên ma túy kẹo pha vào nước ngọt để cả nhóm cùng nhau sử dụng. Đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C phát hiện và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số 575/KL-KTHS ngày 26-10-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh kết luận:

+ Chất bột màu trắng trên 01 (một) cái dĩa màu trắng được niêm phong ký hiệu NS2 mã số NS2A 050153 gửi giám định là Ma túy; Loại: Ketamine; Khối lượng: 0,0243 gam.

+ Chất bột màu trắng chứa trong 01 (một) túi vuốt khóa miệng được niêm phong ký hiệu NS3 mã số NS3A 070353 gửi giám định là Ma túy; Loại: Ketamine; Khối lượng: 0,4596 gam.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 21/2023/HS-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng G phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng G 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2022.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt đối với các bị cáo khác xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/5/2023, bị cáo Trần Hoàng G kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo Trần Hoàng G thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quyết định, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới.

Quan điểm đại diện Viện iểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Sau khi xem xét toàn diện nội dung vụ án, lời trình bày của bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận: Vào khoảng 14 giờ, ngày 23-10-2022, tại phòng hát VIP 3 quán Karaoke Y, tọa lạc tại khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo Nguyễn Văn V, bị cáo Trần Văn Chí Th, bị cáo Nguyễn Minh T đã tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với bị cáo Nguyễn Văn H, bị cáo Trần Hoàng G và chị Võ Thị Kim L và bị cáo là người đưa thẻ ATM để bị cáo H cà phân ma túy ra để sử dụng. Do đó Bản án sơ thẩm quy kết bị cáo phạm tội “Tổ chức trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 08 (năm) năm tù là là đúng quy định pháp luật, bởi vì khung hình phạt các bị cáo bị truy tố từ 07 năm đến 15 năm tù. Từ những phân tích trên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng G, giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Lời nói sau cùng của bị cáo Trần Hoàng G: Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo là còn trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Hoàng G cũng nhưng trong quá trình điều tra bị cáo thừa nhận: Vào khoảng 14 giờ, ngày 23/10/2022 tại phòng hát VIP 3 quán Karaoke Y, tọa lạc khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Trà Vinh, bị cáo đưa cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 thẻ ATM mục đích cho bị cáo H phân chia ma túy để cùng sử dụng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án và vật chứng đã thu giữ, có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội với vai trò giúp sức cung cấp thẻ ATM là công cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó bản án sơ thẩm quy kết bị cáo Trần Hoàng G phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là phù hợp quy định pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, ma túy là chất gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, ảnh hưởng đến khả năng tham gia lao động, học tập, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về trí tuệ của người sử dụng và còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác đến đời sống xã hội. Bản thân bị cáo có đủ sức khỏe để tìm công việc làm ổn định, tạo ra thu nhập chính đáng phục vụ nhu cầu bản thân, cũng như nuôi gia đình nhưng bị cáo không chí thú làm ăn. Về tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, bản thân bị cáo hoàn toàn nhận thức được tác hại của ma túy, nhận thức được hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hơn nữa, hành vi của bị cáo còn xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý, kiểm soát chất ma túy, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nào mới nhưng qua xem xét mức hình phạt 08 (Tám) năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là nặng, bởi vì trong vụ án này bị cáo không phải là người cung cấp ma túy, cũng không tổ chức uống bia tại phòng hát Vip 3 mà bị cáo được bị cáo H mời đến mục đích để uống bia nhưng bị cáo nghe bị cáo H hỏi có gì chia ma túy không thì bị cáo tự nguyện đưa thẻ ATM để làm dụng cụ phân ma túy. Trong vụ án này cấp sơ thẩm đánh giá chưa toàn diện, chưa khách quan và chưa xác định đúng vai trò của bị cáo nên mức hình phạt 08 (Tám) năm tù cấp sơ tuyên đối với bị cáo là nặng, vì vậy, mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào đặc biệt mới, tuy nhiên Hội đồng xét xử căn cứ vào mức hình phạt, đánh giá hành vi của bị cáo tham gia trong vụ án này, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Hoàng G. Sửa Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trần Hoàng G.

Đề nghị của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm Hội đồng xét xử có cân nhắc xem xét, tuy nhiên không phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng G được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

U T ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Hoàng G.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2023/HS- ST, ngày 26/04/2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Trà Vinh.

Tuyên bố bị cáo Trần Hoàng G phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2, Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, các Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Hoàng G 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2022.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Trần Hoàng G không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ