vanban.org

Bản án 44/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 23/01/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: Trần Đức H) phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 138; Điều 33; điểm h; p khoản 1 Điều 46; các Điều 68; 69; 71; 74 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Xử phạt bị cáo Trần Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: Trần Đức H) phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỊNH HÓA
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2020/HS-ST
Ngày 23/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiểm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lương Thị Bông - Cán bộ Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

2. Ông Ma Đình Nghị - Phó Trưởng phòng, Phòng Tư pháp huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Trần Vũ Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2020/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2020/QĐXXST - HS ngày 09 tháng 11 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn H (tên gọi khác: Trần Đức H), sinh ngày 11 tháng 10 năm 1993, tại huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nởi ở hiện nay: Xóm TT, xã VL, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; không theo tôn giáo nào; con ông Trần Văn M và bà Lê Thị Đ; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Đã bị khởi tố bị can theo Quyết định khởi tố bị can số 128/CSĐT, ngày 03/8/2011 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên khởi tố Trần Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009. Sau khi bị khởi tố, H bỏ trốn khỏi địa phương, vụ án hiện đang được phục hồi điều tra theo Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự số 05/CSĐT ngày 22/7/2020 và Quyết định phục hồi điều tra bị can số 05/CSĐT ngày 22/7/2020 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và đang được giải quyết theo quy định. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2020 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

- Bị hại: Chị Phạm Thị Ng, sinh năm 1985; trú tại xóm BL, xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Văn Nhân, sinh năm 1983; trú tại xóm BL, xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Lê Văn D, sinh năm 1991; trú tại xóm TT, xã VL, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

2. Anh Nguyên Văn Thịnh, sinh năm 1966; trú tại Tổ 15, phường ĐQ, thàng phố TN tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn H và Lê Văn D cùng trú tại xóm TT, xã VL, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên có mối quan hệ là anh em họ với nhau. Sáng ngày 16/7/2011, H gặp D tại thành phố Thái Nguyên, khi gặp, D rủ H đi lên địa bàn huyện Định Hoá để trộm cắp xe mô tô về bán lấy tiền tiêu xài, H đồng ý. Sau đó, D điều khiển một xe mô tô (D nói với H là xe mượn của một người bạn mới quen, H không biết D mượn của ai tên tuổi, địa chỉ, không nhớ xe mô tô nhãn hiệu gì, biển kiểm soát) chở H lên huyện Định Hoá. Khi đến thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, H và D vào một quán nước vỉa hè, sát với tường bao Nhà thiếu nhi Định Hóa, thuộc phố Tân Lập, thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, H và D ngồi uống nước. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, H và D thấy có nhiều người dân đi xe mô tô đến, dựng trong sân Trung tâm Văn hóa – Thiếu nhi huyện Định Hóa để học thi giấy phép lái xe mô tô. Qua quan sát H và D thấy 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave α, màu đỏ, đen, bạc là xe mới nhất trong số các xe dựng ở gần cổng ra vào. Khi mọi người đi hết vào trong Hội trường, D bảo H ngồi cảnh giới, để D đi vào trong lấy xe, H ngồi quan sát, cảnh giới cho D, D đi theo hướng cổng vào chỗ dựng chiếc xe mô tô đó, D đứng quan sát khoảng mười phút thì dắt xe mô tô ra khỏi cổng Nhà thiếu nhi huyện Định Hoá, khởi động xe và điều khiển xe qua quán nước chỗ H ngồi, D dùng tay ra hiệu cho H, H thanh toán tiền nước và điều khiển xe mô tô của D đi lên huyện Định Hoá trước đó đi theo D. D và H đi theo hướng thị trấn Chợ Chu qua các xã Bình Yên – Bình Thành – Minh Tiến, Đại từ và về Thành phố Thái Nguyên. Khi đi được khoảng 30 phút, D dừng xe, dùng vam phá khoá hình chữ T mang theo mở cốp xe rồi dùng bộ đồ sửa xe có trong cốp xe, thảo biển kiểm soát của xe cho vào trong cốp xe, sau đó tiếp tục điều khiển xe về thành phố Thái Nguyên. Khi về đến thành phố Thái Nguyên, H và D vào một quán nước tại khu vực phường Đồng Quang, mục đích bàn nhau tìm người tiêu thụ xe. Nhưng do không tìm được người tiêu thụ, cả hai thống nhất tạm thời gửi xe vào nhà gửi xe của trường Đại học y dược Thái Nguyên để tiêu thụ, D đưa chìa khoá cho H điều khiển xe đi gửi tại nhà gửi xe của trường Đại học y dược Thái Nguyên. Đến ngày 26/7/2011, H và D tiếp tục đi trộm cắp xe mô tô tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên thì bị bắt quả tang, quá trình điều tra, H đã khai nhận hành vi cùng D trộm cắp xe mô tô tại Nhà thiếu nhi huyện Định Hóa ngày 16/7/2011, khai nhận việc gửi xe tại trường Đại học y dược Thái Nguyên. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương tiến hành thu giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave màu đỏ, đen, bạc, BKS 20C1 – 007.05 sau đó chuyển tang vật và chuyển hồ sơ vụ việc cho Công an huyện Định Hóa điều tra theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 14/KL-ĐG ngày 03/10/2011 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Định Hóa kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave α, màu sơn đỏ, đen, BKS 20C1 – 007.05, số máy 12E2901069, số khung BY101039 có giá trị là: 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng).

Vật chứng của vụ án: Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave α, màu sơn đỏ, đen, bạc BKS 20C - 007.05; số máy 12E2901069; số khung BY101039, sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Định Hoá đã trả lại cho chị Phạm Thị Ngọc quản lý, sử dụng.

Tại Bản án số: 02/2012/HSST ngày 12/01/2012 của Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã xử lý hành vi phạm tội của Lê Văn D. Do bị cáo H bỏ trốn nên Cơ quan điều tra Công an huyện Định Hóa đã ra Quyết định truy nã, tách ra để xử lý sau. Đến ngày 17/7/2020, khi từ nước Trung Quốc về Việt Nam, H bị bắt theo quyết định truy nã.

Quá trình điều tra, Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời khai nhận của bị can là phù hợp với lời khai của Lê Văn D, bị hại, người làm chứng, phù hợp với biên bản, sơ đồ khám nghiệm hiện trường cũng như các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số: 41/CT-VKS ngày 12/10/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, truy tố bị cáo Trần Văn H ra trước Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên để xét xử về tội: "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo Trần Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, bị cáo biết hành vi trộm cắp tài sản của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xác định việc truy tố tại bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa đối với bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, sai. Bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Văn H về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; Điều 33 ; điểm h, p khoản 1 Điều 46; các điều 68; 69; 71; 74 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 17/7/2020.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết theo Bản án án số 02/2012/HSST, ngày 12/01/2012 của Toà án nhân dân huyện Định Hoá.

- Về án phí: Bị cáo Trần Văn H pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận: Bị cáo H không tranh luận, bào chữa.

Bị cáo H nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Định Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn H, Hội đồng xét xử thấy:

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai, các bản tự khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan Điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định:

Khoảng 14 giờ ngày 16/7/2011, tại sân Nhà thiếu nhi huyện Định Hoá thuộc phố Tân Lập, thị trấn Chợ Chu, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, Lê Văn D và Trần Văn H (17 tuổi, 9 tháng, 05 ngày tính đến ngày 16/7/2011) đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave α, màu sơn đỏ đen, BKS 20C1 – 007.05, số máy 12E2901069, số khung BY101039 có giá trị tài sản là: 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng) của chị Phạm Thị Ngọc. Sau khi bị khởi tố, Trần Văn H đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 17/7/2020, H bị bắt theo quyết định truy nã.

Đối với hành vi phạm tội của Lê Văn D đã được xử lý tại Bản án số 02/2012/HSST ngày 12/01/2012 của Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.

Bị cáo khai bị cáo biết hành vi "Trộm cắp tài sản" của mình là vi phạm pháp luật; các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" là không oan, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Mục đích của bị cáo trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài cho bản thân.

Tại thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 đang có hiệu lực. Do vậy cần áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trần Văn H phạm tội "Trộm cắp tài sản". Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Điều 138. Tội trộm cắp tài sản.

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng … thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Do đó bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Trần Văn H về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:

- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự; xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo cố ý thực hiện.

- Về nhân thân: Bị cáo H có nhân thân xấu, bị cáo có sức khỏe nhưng lười lao động; có trình độ văn hóa, có đủ trình độ nhận thức để điều chỉnh hành vi xử sự của bản thân cho đúng vói các qui định của pháp luật, song do ham ăn chơi nhưng không có tiền tiêu xài cho bản thân nên bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người khác trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tại Quyết định khởi tố bị can số 128/CSĐT, ngày 03/8/2011 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên khởi tố Trần Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Sau khi bị khởi tố, H bỏ trốn khỏi địa phương, vụ án hiện đang được phục hồi điều tra và đang được giải quyết theo quy định.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, xét thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không pH chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt.

. Về hình phạt chính: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự đối với bị cáo, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để tập trung cải tạo mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo hiện sống phụ thuộc gia đình không có tài sản gì. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009.

. Vật chứng của vụ án: Đối với xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave α, màu sơn đỏ đen, BKS 20C1 - 007.05, số máy 12E2901069, số khung BY101039, sau khi điều tra làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Định Hoá đã trả lại cho chị Phạm Thị Ngọc quản lý, sử dụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

.Về trách nhiệm dân sự: Tại Bản án số 02/2012/HSST, ngày 12/01/2012 của Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, nay chị Phạm Thị Ngọc và anh Hoàng Văn Nhân không yêu cầu bị cáo H pH bồi thường gì thêm. Đối với 01 chứng minh thư nhân dân, 01 đăng ký xe máy; 01 giấy phép lái xe và 01 bảo hiểm xe máy trong cốp xe bị mất, chị Ngọc đã nhận lại đầy đủ và không có đề nghị gì do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

.Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo H pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

. Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc áp dụng hình phạt chính và về án phí đối với bị cáo là phù hợp và có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; Điều 326; khoản 1, khoản 3 Điều 329; khoản 1, khoản 4 Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn H (tên gọi khác: Trần Đức H) phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

1.Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 138; Điều 33; điểm h; p khoản 1 Điều 46; các Điều 68; 69; 71; 74 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 15 (mười lăm) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 17 tháng 7 năm 2020.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 23 tháng 11 năm 2020).

2. Về án phí: Căn cứ các điều 135,136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Trần Văn H pH chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo; báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ