- Tranh chấp gì? án hình sự — "VÕ VĂN T - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 190 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 44/2020/HS-ST Ngày 17 – 8 – 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hải Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lệ Mỹ
2. Bà Nguyễn Thị Thu Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2020 đối với bị cáo:
Võ Văn T, sinh năm 1978, tại tỉnh Đồng Tháp. Hộ khẩu thường trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T1, sinh năm 1961 và bà Đặng Thị Thanh T2, sinh năm 1957; bị cáo có vợ tên Trần Diệu T3, sinh năm 1986 (đã ly hôn năm 2015); bị cáo có 01 người con, sinh năm 2004; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/3/2020 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Văn T thuê nhà trọ tại xã D, huyện Đ, tỉnh Tây Ninh nhưng không đăng ký tạm trú và đi làm công nhân cho các xí nghiệp trên địa bàn huyện Đ. Sau khi xí nghiệp cho tạm nghỉ việc do dịch bệnh Covid – 19, T không có việc làm ổn định. Trong thời gian đó, T tiếp cận được một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch tại khu vực ngã ba Đất Sét thuộc xã D, huyện Đ, tỉnh Tây Ninh là người bán thuốc lá điếu nhập lậu. Qua tìm hiểu, thấy việc buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu có lời nên T có ý định mua thuốc lá điếu nhập, sau đó đem bán lại cho các tiệm tạp hóa để hưởng tiền chênh lệch. T và người đàn ông trên thoả thuận việc mua bán và hẹn giao dịch vào lúc 01 giờ 00 phút, ngày 31/3/2020 tại khu vực ngã ba Đất Sét. Như đã hẹn từ trước, khoảng 01 giờ 10 phút ngày 31/3/2020, T điều khiển xe mô tô biển số 66C1-291.55, đi từ nhà trọ đến khu vực ngã ba Đất Sét gặp người đàn ông trên. T mua 1.900 bao bao thuốc lá điếu nhập lậu với giá 29.950.000 đồng (trong đó 1.100 bao hiệu Hero với giá 15.950.000 đồng, 800 bao hiệu Jet với giá 14.000.000 đồng). Sau khi giao dịch xong, T chất hết số thuốc lá điếu nhập lậu trên lên xe mô tô và chở hướng đến khu vực phường G, thị xã H với mục đích đem bán lại cho các tiệm tạp hoá để hưởng tiền chênh lệch. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng này, khi T điều khiển xe mô tô chở số thuốc lá trên đến đoạn đường thuộc ấp E, xã F, huyện P, tỉnh Bình Dương thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma tuý Công an huyện Dầu Tiếng phối hợp cùng Công an xã F bắt quả tang và thu giữ các vật chứng gồm:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE RSX, màu sơn: trắng xám, biển số: 66C1-291.55, số máy: JA32E0087015; số khung: 3222EY086938;
- 1.900 (một nghìn chín trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 1.100 bao hiệu Hero, 800 bao hiệu Jet);
- 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 340907950, tên Võ Văn T;
- 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 012922.
Tại Bản Cáo trạng số 42/CT-VKSDT-HS ngày 30/6/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Võ Văn T về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương giữ nguyên quan điểm và quyết định truy tố đối với bị cáo Võ Văn T về tội: “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự và đề nghị:
- Về hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn T từ 01(một) năm tù đến 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE RSX, màu sơn: trắng xám, biển số: 66C1 – 291.55, số máy: JA32E0087015; số khung: 3222EY086938. Quá trình điều tra xác định, xe mô tô trên do Võ Văn T đứng tên chủ sở hữu. T sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội nên đề nghị tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước;
+ Đối với 1.900 (một nghìn chín trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu (Gồm 1.100 bao hiệu Hero, 800 bao hiệu Jet) là hàng cấm, đề nghị tịch thu, tiêu hủy.
+ Đối với 01(một) giấy chứng minh nhân dân số 340907950, tên Võ Văn T; trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trả lại cho bị cáo là phù hợp nên không đề cập xử lý.
+ Đối với 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 012922 mang tên Võ Văn T. Đây là giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số: 66C1 – 291.55 trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trả lại cho bị cáo là không phù hợp nên đề nghị buộc bị cáo nộp lại để xử lý cùng xe mô tô biển số: 66C1 – 291.55.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Văn T không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có điều kiện cải tạo làm người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Dầu Tiếng, Điều tra viên, Cơ quan Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, Kiểm Sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là đúng quy định của pháp luật.
Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo Võ Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 31/3/2020, tại ấp E, xã F, huyện P, tỉnh Bình Dương, bị cáo Võ Văn T có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 66C1-291.55 vận chuyển 1.900 (một nghìn chín trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 1.100 bao hiệu Hero, 800 bao hiệu Jet) với mục đích đem bán cho các tiệm tạp hóa để hưởng tiền chênh lệch.
Như vậy, hành vi của bị cáo Võ Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến chính sách quản lý các mặt hàng cấm của Nhà nước mà còn gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhằm cải tạo, giáo dục riêng cho bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp có cơ sở chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
+ Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE RSX, màu sơn: trắng xám, biển số: 66C1 – 291.55, số máy: JA32E0087015; số khung: 3222EY086938 do Võ Văn T đứng tên chủ sở hữu. T sử dụng xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội nên tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước;
+ Đối với 1.900 (một nghìn chín trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu (Gồm 1.100 bao hiệu Hero, 800 bao hiệu Jet) là hàng cấm nên tịch thu, tiêu hủy.
+ Đối với 01 (một) giấy chứng minh nhân dân số 340907950, tên Võ Văn T; Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trả lại cho bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
+ Đối với 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 012922 mang tên Võ Văn T. Đây là giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy biển số: 66C1 – 291.55 là phương tiện mà bị cáo sử dụng để phạm tội phải tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước. Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Dầu Tiếng đã trả lại cho bị cáo là không phù hợp nên cần buộc bị cáo nộp lại để xử lý cùng xe mô tô biển số: 66C1 – 291.55.
Từ những nhận định nêu trên, nhận thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Võ Văn T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Võ Văn T 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 31/3/2020.
2. Về xử lý vật chứng:
+ Buộc bị cáo nộp lại 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 012922 mang tên Võ Văn T do Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 02/8/2016 đối với xe mô tô biển số: 66C1 – 291.55.
+ Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: HONDA, số loại: WAVE RSX, màu sơn: trắng xám, biển số: 66C1 – 291.55, số máy: JA32E0087015; số khung: 3222EY086938 do Võ Văn T đứng tên chủ sở hữu.
+ Tịch thu tiêu hủy 1.900 (một nghìn chín trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu (Gồm 1.100 bao hiệu Hero, 800 bao hiệu Jet).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P).
3. Về án phí: Bị cáo Võ Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - Công an huyện Dầu Tiếng; - Chi cục THADS huyện P; - PV 27 - Công an tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, văn thư. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hải Nam |