- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Hoang A phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm t i: “Tr m cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? luật Tố tụng hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 44/2020/HS-ST Ngày: 30-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thi.
Các Hội thẩm nhân dân:
ng Ngô Văn M ng.
ng Trương Phước Công.
- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Thảo, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: ng Lê Hoàng Vỉnh, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2020/HS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1983. Tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp B, xã X, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; quốc tịch: Việt Nam; dân t c: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; trình đ h c vấn: 4/12; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1961 và bà Trịnh Thị Tuyết V, sinh năm 1965; vợ Đỗ Thị Bích T, sinh năm 1988; con Đỗ Thị Bích T1, sinh năm 2002; Nguyễn Tuyết O, sinh năm 2007; Nguyễn Thiên K, sinh năm 2007; tiền án: không; tiền sự: không;
Bị bắt, tạm giam ngày 10/8/2020 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: ng Hồ Văn G, sinh năm 1983, nơi cư trú: ấp B, xã X, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt
Người làm chứng:
- Bà Đặng Thị Ánh L, sinh năm 1984; có mặt
- Hồ Thị Yến N, sinh 2005;; vắng mặt
Người đại diện hợp pháp của Hồ Thị Yến N: ng Hồ Văn G, sinh năm 1983, bà Đặng Thị Ánh L, sinh năm 1984; là người đại diện theo pháp luật. ng Hồ Văn G, bà Đặng Thị Ánh L có mặt.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Hoàng A nảy sinh ý định tr m cắp tài sản của người khác. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 10/8/2020, Hoàng A đi b t nhà ở ấp B, xã T, đến nhà của Hồ Văn G ngụ cùng ấp (cách nhà của Hoàng A khoảng 200 mét), quan sát thấy trong nhà vắng người, Hoàng A lén lút đi vào tìm tài sản, phát hiện có 01 điện thoại hiệu OPPO A12, màu xanh (đã qua sử dụng) để trong túi xách màu đen, treo trên vách phòng ở gian nhà giữa, Hoàng A lén lấy tr m điện thoại để vào túi quần rồi đi về nhà cất giấu. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, hay tin sự việc bị phát hiện nên Hoàng A đến công an xã X đầu thú, giao n p điện thoại.
Kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 13/8/2020 của H i đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu OPPO A12, loại RAM 4GB, màu xanh (đã qua sử dụng), trị giá 2.600.000 đồng;
Ngày 10/8/2020 Hoàng A bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Mới khởi tố, bắt tạm giam để điều tra.
Người bị hại, người làm chứng cho biết: Tài sản bị mất tr m 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu OPPO A12, màu xanh như n i dung vụ án đã nêu. Cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trả lại cho người bị hại nên người bị hại không yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 40/CT.VKSCM ngày 10 tháng 9 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng A về t i “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 B luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Kiểm sát viên trình bày lời luận t i: Giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng A về t i “Tr m cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đề nghị H i đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo khoảng 6 tháng tù.
Không áp dụng khoản 5 Điều 173 B luật hình sự để phạt tiền bị cáo
Về vật chứng vụ án: vật chứng thu giữ đã được Cơ quan điều tra giao trả lại cho bị hại là phù hợp nên không đề cập giải quyết
Trách nhiệm dân sự bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng A khai nhận đã thực hiện hành vi phạm t i như n i dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, không tranh luận với lời luận t i của đại diện Viện kiểm sát và xin H i đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.
Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, người làm chứng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của h không gây cản trở cho việc xét xử. Vì vậy, H i đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng A khai nhận hành vi phạm t i phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. H i đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút, tại nhà của anh Hồ Văn G, sinh năm 1983 thu c ấp B, xã X, huyện C, tỉnh An Giang, Nguyễn Hoàng A có hành vi lén lút tr m 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A12, màu xanh trị giá 2.600.000 đồng của anh Hồ Văn G. Bản cáo trạng số 40/CT.VKSCM ngày 10 tháng 9 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh An Giang truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm t i “Tr m cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 B luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét tính chất vụ án nhận thấy: Trong vụ án này chỉ có m t mình bị cáo thực hiện t i phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người bị hại để chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di đ ng trị giá 2.600.000 đồng, anh Hồ Văn G là hàng xóm của bị cáo, biết được thời gian, địa điểm anh G làm việc nên bị cáo chờ thời cơ để tr m cắp chiếc điện thoại của anh G với mục đích mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã h i, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho người khác về việc quản lý tài sản.
Bị cáo đang ở đ tuổi lao đ ng, lẽ ra bị cáo phải tích cực lao đ ng để tạo lập tài sản chính đáng cho bản thân và nuôi sống gia đình mình nhưng vì hám lợi, bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm t i của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ng a chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo tỏ rõ thái đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo mới phạm t i lần đầu và thu c trường hợp ít nghiêm tr ng; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; tài sản đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật hình sự nên có xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt. H i đồng xét xử cần xem xét để giảm nhẹ m t phần hình phạt cho bị cáo
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: H i đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng khoản 5 Điều 173 B luật hình sự để phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp pháp luật.
. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định điện thoại di đ ng nhãn hiệu OPPO A12, loại 4GB, màu xanh (đã qua sử dụng) là tài sản hợp pháp của anh Hồ Văn G nên ngày 18/8/2020, cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho anh G là phù hợp pháp luật.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường nên không xét đến.
. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng A phạm t i: “Tr m cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng A 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính t ngày 10/8/2020.
Căn cứ các Điều 135, Điều 136 B luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc H i quy định về mức thu, miễn, giảm, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bu c bị cáo Nguyễn Hoàng A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ các Điều 331, 333, 334 B luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND huyện (2); - Tòa án nhân dân tỉnh (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giữ (2); - Phòng hồ sơ (1); - Thi hành án DS huyện (1); - B phận THA Tòa án (1); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1); - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Thi |