vanban.org

Bản án 44/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 15/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố bị cáo Thào A T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. 2/ Vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào A T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Thào A T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2019/HS-ST
Ngày 15 - 10 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Đức Việt, bà Vì Thị Vinh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Đôn - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tò a á n nhân dân huyệ n Yên Châu , tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 53/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2019/QĐXXST-HS ngày 02/10/2019 đối với bị cáo:

Thào A T, sinh năm 1971; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Bản Đ, xã Phiêng Pằn, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 01/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Thào A X, con bà Sồng Thị V (Đều đã chết), vợ Giàng Thị V, sinh năm 1970 và 03 con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/7/2019 đến nay có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Tòng Văn Minh – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Giàng Thị V, sinh năm 1970. Trú tại: Bản Đ, xã Phiêng Pằn, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 15 phút, ngày 08/7/2019 tại bản Nà Đít, xã Chiềng On, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La tổ công tác Công an huyện Yên Châu phối hợp với Công an xã Chiềng On, Công an xã Phiêng Khoài phát hiện bắt quả tang Thào A T, sinh năm 1971, trú tại bản Đen, xã Phiêng Pằn, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ:

01 gói nilon màu hồng bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine; 01 xe máy nhãn hiệu HONDA – Wave biển kiểm soát 26K1-070.83; 01 điện thoại di động nhãn hiệu BAVAPEN vỏ màu đen; 01 giấy chứng nhận đăng kiểm, 01 chứng minh thư nhân dân đều mang tên Thào A Trắng.

Ngày 09/7/2019 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Châu phối hợp với phòng PC09 Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh và xác định khối lượng số ma túy của Thào A Trắng có khối lượng 0,71 gam, lấy toàn bộ 0,71 gam làm mẫu giám định, ký hiệu K.

Tại kết luận giám định số 1251/KLMT ngày 09/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu ký hiệu K là ma túy; loại Heroine, khối lượng mẫu gửi giám định là 0,71 gam.

Quá trình điều tra Thào A T khai nhận: Khoảng 08 giờ ngày 08/7/2019 Thào A T một mình điều khiển xe máy biển kiểm soát 26K1-070.83 đến bản Nà Khạng – nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào gặp một người phụ nữ dân tộc Mông (không biết tên, địa chỉ) qua trao đổi Trắng mua được một gói Heroine với giá 200.000 đồng, có được Heroine T lấy một ít ra sử dụng, số còn lại cất giấu trong người rồi điều khiển xe máy đi về đến bản Nà Đít, xã Chiềng On, huyện Yên Châu thì bị bắt quả tang thu giữ vật chứng nêu trên.

Bản cáo trạng số: 52/CT-VKSYC ngày 01 tháng 10 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La truy tố: Thào A T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Thào A T từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong là tang vật vụ án Thào A Trắng, bên trong gồm: 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu + 01 mảnh nilon màu hồng.

Trả lại cho bị cáo Thào A T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu BAVAPEN vỏ màu đỏ - đen; 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Thào A T.

Trả lại cho Giàng Thị V: 01 xe máy nhãn hiệu HONDA – Wave biển kiểm soát 26K1-070.83 màu sơn đen; 01 giấy nhận đăng ký xe mô tô mang tên Thào A T, biển kiểm soát 26K1-070.83.

Án phí: Bị cáo thuộc đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh Sơn La, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườ ng vụ Quố c hộ i, cần miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo đọc bản luận cứ bào chữa và đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xử phạt bị cáo từ 20 tháng đến 24 tháng tù và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn về hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Thào A T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị thu giữ có nguồn gốc là do bị cáo mua của người phụ nữ dân tộc Mông, không biết tên tuổi, địa chỉ với mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Thào A T do tổ công tác Công an huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La lập hồi 14 giờ 15 phút, ngày 08/7/2019; biên bản thu giữ vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định trọng lượng lấy mẫu giám định, bản kết luận giám định số 1251/KLMT, ngày 09/7/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận mẫu gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ của Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ.

3 Khung hình phạt áp dụng: Bị cáo tàng trữ khối lượng 0,71 gam chất ma túy, loại chất Heroine, đã vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy.

4 Về hì nh phạ t bổ sung : Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

5 Về vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 mảnh nilon màu hồng và phong bì niêm phong đã bóc mở. Xét là vật không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe máy biển kiểm soát 26K1-070.83 màu sơn đen do bị cáo Thào A T sử dụng đi mua ma túy, xét thấy tài sản trên thuộc sở hữu chung của gia đình bị cáo, bản thân bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy không có công đóng góp trong việc tạo dựng tài sản trên, do vậy tài sản trên thuộc quyền quản lý hợp pháp của chị Giàng Thị V (vợ bị cáo), chị V không biết Trắng dùng xe máy vào việc phạm tội nên không có lỗi, cần tuyên trả lại tài sản cho chủ sở hữu là phù hợp.

6 Về các vấn đề khác:

Về nguồn gốc số ma túy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai mua của người phụ nữ dân tộc Mông, không quen biết, không biết địa chỉ nên cơ quan điều tra Công an huyện Yên Châu không có cơ sở điều tra, xác minh.

Về án phí: Bị cáo thuộc đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh Sơn La, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quố c hộ i, cần miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

1/ Tuyên bố bị cáo Thào A T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Thào A T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/7/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2/ Vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2; điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì giấy niêm phong là tang vật vụ án Thào A T, bên trong gồm: 01 phong bì niêm phong ban đầu + 01 mảnh nilon màu hồng.

Trả lại cho bị cáo Thào A T: 01 chứng minh thư nhân dân mang tên Thào A T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu BAVAPEN vỏ màu đỏ - đen, số IMEI: 359831071709591, đã qua sử dụng.

Trả lại cho Giàng Thị V: 01 xe máy hiệu HONDA - Wave màu sơn đen, biển kiểm soát 26K1-070.83, số máy: JA32E1073421, số khung: 3218EY038867, xe đã qua sử dụng; 01 giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô biển kiểm soát 26K1- 070.83 mang tên Thào A T, do công an tỉnh cấp ngày 15/01/2009.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườ ng vụ Quố c hộ i , miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/10/2019).

Cỡ chữ