vanban.org

Bản án 43/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 20/06/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Căn cứ: -Điểm c khoản 1 điều 190; Khoản 1, 2, 5 Điều 65; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của BLHS.

Điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS Điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tuân, Duẩn - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 Căn cứ: -Điểm c khoản 1 điều 190; Khoản 1, 2, 5 Điều 65; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của BLHS.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG XƯƠNG
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HSST
Ngày 20-06-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N1

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG - TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Lợi

2. Ông Đặng Ngọc Bình

Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Minh Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 06 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2025/HSST ngày 05 tháng 06 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 06 năm 2025. Đối với các bị cáo:

1.Bị cáo Phạm Văn T, Giới tính: N1; Sinh ngày 15 tháng 06 năm 1980; Căn cước công dân số: 038080016892 cấp ngày 07 tháng 11 năm 2021; Nơi cấp Cục cảnh sát (có mặt tại phiên toà).

Nơi cư trú: QT tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N1; Con ông Phạm MinhĐ2 và bà Trịnh Thị Phẩm; Gia đình có 04 người con bị cáo là con thứ hai.

Có vợ là Nguyễn Thị Kim Oanh có 02 con; con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2014

Tiền án, tiền sự không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/12/2024 đến ngày 13/12/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.

2. Bị cáo: NguyễnĐ2D2; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 01/03/1975; Giới tính: N1; Số CCCD: 038075015024 ngày 25 tháng 04 năm 2021; Nơi cấp cục cảnh sát (có mặt tại phiên toà).

Nơi cư trú:QT, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt N1; Con ông PhạmĐ2D (đã chết) và bà Lê Thị L ; Gia đình có 04 người con bị cáo là con thứ tư.

Có vợ là Nguyễn Thị A1, có 02 con; con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2012

Tiền án, tiền sự không.

Nhân thân: Ngày 15/6/2017 bị Toà án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá, xử 9 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc; đã chấp hành xong án phí HSST và tiền phạt sung công quỹ nhà nước ngày 20/9/2017.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/12/2024 đến ngày 13/12/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Hoài N1, sinh năm 2006 (vắng mặt tại phiên toà)

Nơi cư trú: BD, tỉnh Thanh Hoá

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 6 năm 2024, Phạm Văn T nhắn tin đặt mua 05 (năm) quả pháo cù và 01 (một) giàn pháo hoa 09 quả từ một tài khoản mạng xã hội Facebook (T không nhớ thông tin tên tài khoản) với giá 1.450.000đ (Một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng). Khoảng 02 ngày sau, số pháo trên được đối tượng bán gửi qua xe ô tô khách đến Ngã 3 QL1A, thôn Cống Trúc, xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương. Khi nhận pháo, T đưa tiền cho nhà xe và nhận số pháo trên đem về nhà cất giấu.

Ngày 10/7/2024 anh NguyễnĐ2D2 cũng đặt mua 08 (tám) giàn pháo hoa nổ loại 49 quả từ tài khoản Facebook “Người Vận Chuyển” với giá 720.000đ (Bảy trăm hai mươi nghìn đồng)/1 giàn. Đến khoảng 22h giờ ngày 12/7/2024,D2 được một đối tượng N1 giới liên lạc hẹn đến Cầu “Lọc”,QT để nhận pháo. Sau khi kiểm tra và nhận đủ pháo,D2 đưa cho đối tượng trên 5.760.000đ (Năm triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) rồi đem pháo về nhà cất giấu.

Đến khoảng cuối tháng 10/2024, trong lúc T vớiD2 cùng đi buôn bán tôm, T nói vớiD2 về việc muốn mua pháo hoa nổ để sử dụng trong dịp tết Nguyên đán thì đượcD2 kể lại về việcD2 có 08 giàn pháo hoa trên. Nghe vậy, T hỏi mua lại pháo hoa củaD2, lúc này do sợ khi nổ pháo hoa sẽ bị cơ quan Công an phát hiện, xử lý nênD2 bán lại 08 giàn pháo hoa cho T với giá 5.760.000đ (Năm triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng), bằng số tiền đã mua trước đó. Khoảng cuối tháng 11/2024, T đem 01 giàn pháo hoa loại 49 quả, trong số pháo đã mua củaD2 đến cánh đồng ở gần Cầu Lọc,QT để nổ thử thì có một người đàn ông đi qua nhìn thấy hỏi mua nên T đồng ý bán lại giàn pháo cho người đàn ông này với giá 1.900.000đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng).

Đến ngày 07/12/2024, khi được Vũ Hoài N1, sinh năm 2006 ở BD, tỉnh Thanh Hóa nhắn tin nhờ tìm mua pháo hoa nổ, T đã bán lại 02 giàn pháo hoa loại 49 quả cho N1 với giá 3.400.000đ (Ba triệu bốn trăm nghìn đồng) N1 chưa trả tiền cho T. Khoảng 12h50’ ngày 08/12/2024, N1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave BKS: 36B5-943.48, đi một mình đem theo 02 giàn pháo hoa đã mua của T đến cánh đồng thôn Phúc Ấm, xã Đồng Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa để bán cho chủ tài khoản Facebook có tên là “Huy” đã đặt mua với N1 trước đó với giá 3.800.000đ (Ba triệu tám trăm nghìn đồng). Khi N1 đem pháo đến thôn Phúc Ấm, xã Đồng Tiến, huyện Triệu Sơn thì bị Tổ công tác Công an xã Đồng Tiến kiểm tra, phát hiện và lập biên bản vụ việc, thu giữa 02 (hai) giàn pháo hoa, loại 49 quả, 01 điện thoại di động Iphone 11Pro Max, 01 xe mô tô Wave S màu xanh, BKS: 36B5-943.48 của Vũ Hoài N1.

Ngày 08/12/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện Triệu Sơn tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn T thu giữ 05 giàn pháo hoa nổ loại 49 quả, 01 giàn pháo loại 09 quả và 05 pháo cù.

Ngày 12/12/2024, Phạm Văn T và NguyễnĐ2D2 đã đến Công an huyện Triệu Sơn đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình, đồng thời giao nộp 01 điện thoại Samsung màu trắng bạc của NguyễnĐ2D2 và 01 điện thoại di động Samsung màu đen của Phạm Văn T.

Tại Bản K luận giám định số: 4695/KL-KTHS ngày 12/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa K luận:

- 02 (hai) khối hộp, mỗi khối hộp kích thước (17,5x17,5x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, bên trong có 49 lỗ, mỗi lỗ có đường kính 1,9 cm, được K nối với nhau bằng sợi dây ngòi dưới đáy hộp thu giữ của Vũ Hoài N1 đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ), có tổng khối lượng là 3,46kg.

- 02 (hai) khối hộp, mỗi khối hộp kích thước (17,5x17,5x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, bên trong có 49 lỗ, mỗi lỗ có đường kính 1,9cm, được K nối với nhau bằng sợi dây ngòi dưới đáy hộp thu giữ tại nhà Phạm Văn T đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ), có tổng khối lượng là 3,4kg.

- 01 (một) khối hộp, mỗi khối hộp kích thước (25x13x13)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, bên trong khối hộp có 09 vật hình trụ tròn được K nối với nhau, mỗi vật dài 25cm, đường kính 4,2cm thu giữ tại nhà Phạm Văn T đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ), có tổng khối lượng là 1,88kg.

- 05 (năm) vật nhiều màu sắc, mỗi vật dài 7,2cm, đường kính lớn nhất 3,7cm và gắn sợi dây ngòi màu xanh, thu giữ tại nhà Phạm Văn T đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ), có tổng khối lượng là 0,2kg.

- 03 (ba) khối hộp, mỗi khối hộp kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, bên trong có 49 vật hình trụ tròn, được liên K với nhau, mỗi vật dài 10cm, đường kính 2,4cm, thu giữ tại nhà Phạm Văn T đều là loại pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ), có tổng khối lượng là 4,86kg.

Tổng 08 dàn pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ), 05 quả pháo cù là pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ) nêu trên có tổng khối lượng 13,8kg. Tổng khổi lượng pháo nổD2 mua và bán lại cho T còn thu giữ được là 11,72kg. Tổng khối lượng pháo nổ T mua trên mạng và mua củaD2 để bán lại là 13,8kg (số còn lại thu giữ được).

Tại Bản K luận giám định kỹ thuật số và điện tử số: 1287/KL-KTHS ngày 09/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, K luận:

- Trong điện thoại di động Iphone 11 Pro Max của Vũ Hoài N1 tìm thấy 1530 (Một năm ba không) cuộc gọi, 660 (Sáu sáu không) tin nhắn Messages, 3468 (Ba bốn sáu tám) tin nhắn Zalo, không trích xuất được được dữ liệu tin nhắn Facebook.

Dữ liệu giám định gồm 01 tệp “Phuluc.rar” có dung lượng 2.02Mb được Phòng Kỹ thuật hình sự niêm phong, lưu trữ trong 01 USB gửi kèm theo K luận giám định. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương tiến hành mở niêm phong, kiểm tra dữ liệu giám định, K quả xác định:

Trong tài khoản Zalo “N1” của N1 có các tin nhắn của N1 rủ Vũ ThịH1, sinh năm 1997 ở Tổ dân phố Hồng Kỳ, phường Hải Ninh, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá (chị gái N1) tham gia bán pháo hoa của Bộ Quốc phòng và rủ Lê Nhật Quân, sinh năm 1997 (chồngH1) tìm mua pháo hoa nổ để bán; tin nhắn từ tài khoản Zalo “Nguyễn Lâm” của Nguyễn Văn Lâm, sinh năm 1977 ở BD, tỉnh Thanh Hóa nhắn tin với N1 để tìm hiểu giá của một số loại pháo hoa nổ.

- Không khai thác được dữ liệu trong 01 (một) điện thoại di động Samsung, màu trắng bạc, do không xác định được mật khẩu mở khóa màn hình.

- Không khai thác được dữ liệu trong 01 (một) điện thoại di động Samsung, màu đen, do điện thoại không lên nguồn, không xác định được nguyên nhân.

Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận t3 bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với tài liệu chứng cứ và tang vật thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 45/CTr-VKSQX ngày 05/06/2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố các bị cáo Phạm Văn T, NguyễnĐ2D2 về tội "Buôn bán hàng cấm " theo điểm c khoản 1 điều 190 của BLHS.

Tại phiên toà đại diện VKSND huyện Quảng Xương giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của BLHS. Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, NguyễnĐ2D2 phạm tội "Buôn bán hàng cấm ". Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng. Đề nghị xử phạt bị cáo NguyễnĐ2D2 từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 40 tháng đến 48 tháng. Không phạt bổ sung đối với các bị cáo. Về vật chứng căn cứ điểm a,b khoản 1 Điều 47 của BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS đề nghị tịch thu tiêu huỷ t3 bộ số pháo theo quy định. Truy thu sung nộp ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo có được từ việc bán hàng cấm cụ thể. Truy thu từ bị cáoD2 là 5.760.000đ (Năm triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng). Truy thu đối với Phạm Văn T số tiền 1.900.000đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng). Truy thu số tiền từ anh Vũ Hoài N1 3.400.000đ (Ba triệu bốn trăm nghìn đồng). Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước hai điện thoại sử dụng vào việc phạm tội. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, của Viện kiểm sát huyện Quảng Xương trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại gì về hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng.

. Về tội danh: Có căn cứ xác định: Tháng 6 năm 2024, Phạm Văn T đã mua 05 quả pháo cù và 01 giàn pháo hoa loại 09 quả (thuộc pháo nổ), có khối lượng 2,08kg với giá 1.450.000 đồng của một người không quen biết qua mạng xã hội. Ngày 10/7/2024 NguyễnĐ2D2 có hành vi mua 08 giàn pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ) loại 49 quả, tổng khối lượng 11,72kg của một người không quen biết qua mạng xã hội Facebook với giá 5.760.000 đồng, sau đó bán lại t3 bộ cho Phạm Văn T bằng giá 5.760.000 đồng. Tổng khối lượng pháo nổ T đã mua là 13,8kg.

Đến tháng 11/2024 T đã bán cho một người đàn ông không quen biết ở cầu Lọc, Trường Thành, Quảng Trường 01 giàn pháo nổ loại 49 quả lấy 1.900.000 đồng. Ngày 07/12/2024 T bán cho Nguyễn Hoài N1 02 giàn pháo hoa nổ loại 49 quả lấy 3.400.000 đồng. Số pháo nổ còn lại T chưa kịp bán thì bị phát hiện thu giữ.

Đủ cơ sở K luận các bị cáo Phạm Văn T và NguyễnĐ2D2 phạm tội "Buôn bán hàng cấm " theo điểm c khoản 1 điều 190 của BLHS. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương truy tố các bị cáo như cáo trạng số: 45/CTr-VKSQX ngày 05/06/2025 là đúng người, đùng tội đúng pháp luật.

. Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo Phạm Văn T, NguyễnĐ2D2 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền trong quản lý, sản xuất, kinhD hàng cấm của nhà nước. Do đó phải được xử lý nghiêm minh theo pháp luật hình sự. Trong vụ án này các bị cáo phạm tội giữ vai trò độc lập.

. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của các bị cáo.

-Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng

-Các bị cáo thành khẩn khai báo nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

- Các bị cáo đều ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Bố đẻ bị cáo T - ông Phạm MinhĐ2 là người có công với Cách Mạng được tặng Huân huy chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng Ba nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Ông Nguyễn Bá K là bố vợ của bị cáo NguyễnĐ2D2 là người có Công với Cách Mạng được Nhà nước tặng Huy chương chiến sỹ vẻ vang. Ông Nguyễn Bá K là người thờ cúng em trai- liệt Sỹ Nguyễn Bá T3. Sau khi ông Nguyễn Bá K chết thì bị vợ chồng bị cáoD2 là người chăm mẹ và thờ cúng liệt sỹ Nguyễn Bá T3. Đây là hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Về hình phạt: HĐXX xét thấy các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội chỉ cần xử phạt các bị cáo hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cho các bị cáo miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cũng đủ cải tạo giáo dục các bị cáo thành người tốt. Không phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 cuả BLHS và điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ t3 bộ số pháo theo quy định. Truy thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo có được từ việc bán hàng cấm cụ thể. Truy thu từ bị cáoD2 là 5.760.000đ (Năm triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng). Truy thu đối với Phạm Văn T số tiền 1.900.000đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng). Truy thu số tiền từ anh Vũ Hoài N1 3.400.000đ (Ba triệu bốn trăm nghìn đồng). Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước hai điện thoại sử dụng vào việc phạm tội.

Các tình tiết khác của vụ án: Đối với 01 giàn pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ) T mua củaD2 rồi bán cho người đàn ông tại cánh đồng Cầu “Lọc”, do không xác định được tên tuổi địa chỉ, không thu giữ được 01 giàn pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ) đã bán nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Vũ Hoài N1 có hành vi mua 02 giàn pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ), có khối lượng 3,46kg của Phạm Văn T để bán lại cho đối tượng sử dụng tài khoản Facebook “Huy”, quá trình điều tra xác định Vũ Hoài N1 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi “Sản xuất, buôn bán hàng cấm” cũng như các hành vi được quy định tại các điều 188 đến 196 và 200 Bộ luật hình sự, đồng thời số lượng pháo hoa nổ mà N1 buôn bán không đủ khối lượng truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó hành vi trên của Vũ Hoài N1 không cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại Điều 190 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên hành vi trên của Vũ Hoài N1 đã vi phạm hành chính “Buôn bán pháo nổ từ 3 ki lô gam đến dưới 4 ki lô gam”, quy định tại Điểm c, Khoản 5, Điều 8, Nghị định số 98/2020/NĐ-Cp ngày 26/8/2020 của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thuộc thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch UBND huyện Quảng Xương. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa sao chuyển tài liệu, cùng tang vật liên quan về hành vi vi phạm hành chính của Vũ Hoài N1 đến Ủy ban nhân dân huyện Quảng Xương để xử lý theo thẩm quyền là phù hợp.

Đối với chị Vũ ThịH1, anh Lê Nhật Quân được Vũ Hoài N1 rủ tham gia mua bán pháo hoa của Bộ Quốc phòng và pháo hoa nổ, sau khi được N1 rủ tham gia,H1 và Quân có hành vi nhắn tin trao đổi với N1 về thông tin của một số loại pháo hoa của Bộ Quốc phòng và pháo hoa nổ. Tuy nhiên, do biết hành vi mua bán pháo hoa của Bộ Quốc phòng khi không có giấy phép kinhD và mua bán pháo hoa nổ là vi phạm pháp luật nênH1, Quân đều không tham gia mua bán pháo với N1 và không biết việc N1 thực hiện hành vi mua bán pháo hoa nổ. Đối với anh Nguyễn Văn Lâm có hành vi nhắn tin với N1 về thông tin, giá của một số loại pháo hoa nổ nhưng do biết việc sử dụng pháo hoa nổ là vi phạm pháp luật nên Lâm không mua pháo hoa của N1. Về phía ông Vũ Văn Đàn (bố N1) là chủ sở hữu chiếc xe mô tô Wave S màu xanh, BKS: 36B5-943.48, N1 sử dụng vận chuyển pháo, bản thân ông Đàn không biết N1 sử dụng chiếc xe mô tô này vào mục đích trái pháp luật. Do đó các hành vi trên củaH1, Quân, Lâm và ông Đàn trong vụ án này không vi phạm pháp luật.

Đối với các đối tượng bán pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ) choD2, T qua tài khoản mạng xã hội, cũng như xe ô tô vận chuyển pháo cho T tại Ngã 3 thôn Cống Trúc, xã Quảng Ninh, huyện Quảng Xương và đối tượng mua 01 giàn pháo hoa nổ (thuộc pháo nổ) của T. Quá trình điều tra không xác định tên và địa chỉ của những người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, xử lý theo quy định pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1 Căn cứ: -Điểm c khoản 1 điều 190; Khoản 1, 2, 5 Điều 65; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của BLHS.

-Điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của BLTTHS

-Điểm a khoản 1 Điều 23; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2 Tuyên bố các bị cáo Phạm Văn T, NguyễnĐ2D2 phạm tội "Buôn bán hàng cấm ".

3 Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 24 (Hai mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Văn T cho UBND xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá giáo dục, Công an xã Quảng Trường có trách nhiệm trong việc giám sát bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình ông Phạm MinhĐ2 và bà Trịnh Thị Phẩm có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Quảng Trường và Công an xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể xem xét quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử phạt bị cáo NguyễnĐ2D2 20 (Hai mươi) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 40 (Bốn mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo NguyễnĐ2D2 cho UBND xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá giáo dục, Công an xã Quảng Trường có trách nhiệm trong việc giám sát bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bà Lê Thị Lớn có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Quảng Trường và Công an xã Quảng Trường, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hoá trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo đúng quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể xem xét quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không phạt bổ sung đối với các bị cáo.

4 Về vật chứng:

-Truy thu sung nộp ngân sách Nhà nước số tiền các có được từ việc bán hàng cấm đối gồm:

+ Truy thu đối với bị cáo NguyễnĐ2D2 là 5.760.000đ (Năm triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).

+ Truy thu đối với bị cáo Phạm Văn T số tiền 1.900.000đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng).

+ Truy thu số tiền từ anh Vũ Hoài N1 3.400.000đ (Ba triệu bốn trăm nghìn đồng).

-Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà nước 02 (hai) điện thoại sử dụng vào việc phạm tội.

+ 01 điện thoại di động Sam sung, màu trắng bạc kèm theo 01 sim có ghi số 8984048000381527540;

+ 01 điện thoại di động Sam sung, màu đen kèm theo 01 sim có ghi số 8984048000917200161

- Tịch thu tiêu huỷ t3 bộ số pháo nổ gồm: 08 (Tám) dàn pháo nổ (thuộc pháo nổ), 05 quả pháo cù là pháo hoa nổ(thuộc pháo nổ) có tổng khối lượng 13,8kg là vật cấm lưu hành.

Vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quảng Xương theo biên bản về việc giao nhận vật chứng tài sản ngày 20 tháng 06 năm 2025

5. Về án phí: Các bị cáo Phạm Văn T và NguyễnĐ2D2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án sơ thẩm có mặt các bị cáo, vắng mặt anh Vũ Hoài N1. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Vũ Hoài N1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ