- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TO, TP. HN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43 /2023/HS - ST Ngày 21/6/2023 V/v: Nguyễn Văn V“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. |
NHÂN D
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TO, THÀNH PHỐ HN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông NGUYỄN TIẾN HÙNG
Các hội thẩm nhân dân:
Ông LÊ HUY TRỌNG, Cán bộ nghỉ hưu xã Tam Hưng, huyện TO.
và bà NGUYỄN THỊ TÂM, Giáo viên trường THCS Nguyễn Trực, Thị trấn Kim Bài, huyện TO.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà LÊ THỊ THU HÀ,Thư ký Tòa án nhân dân huyện TO.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TO tham gia phiên tòa:
Ông NGUYỄN THỌ THUẬN – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 6 năm 2023, tại Trụ sở, Tòa án nhân dân huyện TO, Thành phố HN, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 45/2023/TLST- HS ngày 05 tháng 6 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2023/QĐXXST - QĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn V, tên gọi khác: Không có.Giới tính: Nam. Sinh ngày 25 tháng 5 năm 1987.Đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở: Thôn Yên Phú, xã Văn Phú, huyện Thường Tín, TP HN.Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh.Tôn giáo: Không.Trình độ văn hóa: 10/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do.Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không.Họ và tên bố: Nguyễn Văn V, sinh năm: 1960.Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm: 1960. Gia đình bị cáo có 2 anh em, bị cáo là con thứ 2. Vợ: Đinh Thị H,sinh năm: 1991. Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014.Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 04/11/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố HN xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc, đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2022 tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố HN. Tại phiên tòa có mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Quang T, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn Yên Phú, xã Văn Phú, huyện Thường Tín, thành phố HN. Nguyễn Công D, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn Cát Cầu, xã Tiền Phong, huyện Thường Tín, thành phố HN. Dương Thùy D, sinh ngày 18/12/2007. Địa chỉ: Tổ 17, Phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, thành phố HN. Nguyễn Thi Yến N, sinh ngày 13/12/2004. Địa chỉ: Thôn Xuân Nê, xã Khánh Hà, huyện Thường Tín, thành phố HN. Bà Đinh Thị Thanh H, trợ giúp viên pháp lý nhà nước thành phố HN bảo vệ quyền lợi cho Dương Thùy D. Người đại diện cho D là Ông Dương Văn T, sinh năm 1984 và bà Đỗ Thị H, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ 26, Phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, thành phố HN. là bố mẹ đẻ.
Tại phiên tòa Nguyễn Quang T, Nguyễn Công D, Dương Thùy D và Nguyễn Thị Yến Nhi, ông T, bà H vắng mặt.
Người bảo vệ quyền lợi cho Dương Thùy D là bà Đinh Thị Thanh H trợ giúp viên pháp lý Nhà nước Thành phố HN vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 11/11/2022, Nguyễn Văn V,Nguyễn Quang T cùng trú tại thôn Yên Phú, xã Văn Phú, huyện Thường Tín, thành phố HN và Nguyễn Công D trú tại thôn Cát Cầu, xã Tiền Phong, huyện Thường Tín ngồi uống bia ở khu vực thôn Yên Phú, xã Văn Phú thì V có rủ D, T đi hát Karaoke, D và T đồng ý. Sau đó D đi về nhà cho gà ăn và bảo lúc nào đến quán hát gọi thì D đến sau, còn V và T đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết đến khu vực cầu Vân thuộc địa phận xã Khánh Hà, huyện Thường Tín, thành phố HN thì xuống xe. V bảo T đứng đợi ở khu vực cách chân cầu Vân khoảng 30m, còn V đi đâu làm gì thì T không biết. V đi bộ sang bên kia chân cầu Vân, sử dụng số điện thoại của mình là 0326631987 liên lạc với một người phụ nữ không quen biết sử dụng số điện thoại 0325682673 để hỏi mua 04 viên ma túy Kẹo và 01 chỉ ma túy Ke, người phụ nữ này đồng ý bán số ma túy nêu trên cho V với giá 6.000.000 đồng. Sau đó V đi đến một quán Internet ở gần đó cách chân cầu Vân khoảng 100m. Tại đây V có nhờ Nguyễn Đăng Sơn sinh năm 1990, trú tại đội 9, xã Đại Áng, huyện Thanh Trì đổi tiền chuyển khoản để lấy tiền mặt, Sơn đồng ý. V sử dụng số tài khoản của mình là 19038738546014 tại ngân hàng TechcomBank chuyển vào số tài khoản của Sơn là 0978118969 tại ngân hàng thương mại cổ phần quân đội BMbank số tiền 7.000.000 đồng, còn Sơn đưa lại cho V 7.000.000 đồng tiền mặt. Sau khi đổi được tiền mặt, V tiếp tục liên lạc với người phụ nữ sử dụng số điện thoại 0325682673, mua được 04 viên ma túy Kẹo và 01 chỉ ma túy Ke. V cất giấu số ma túy này vào túi quần bên phải, quay lại gặp T và bắt taxi đi đến quán hát Karaoke Quang Dũng T&T ở thôn Phượng Mỹ, xã MH, huyện TO, thành phố HN. Khi đến quán hát, V gặp Nùng Văn Hạnh sinh ngày 25/01/2007, hộ khẩu thường trú thôn Tà Đảm, xã Pờ Ly Ngài, huyện Hoàng Sa Phì, tỉnh Hà Giang đang đứng ở quầy lễ tân. V bảo Hạnh cho 01 phòng hát và gọi thêm 02 nhân viên nữ đến phục vụ. Hạnh đồng ý sắp xếp V, T vào phòng hát số 3. Tại phòng hát, V bỏ số ma túy mua được nêu trên ra sử dụng 1/2 viên ma túy Kẹo, dùng đĩa, thẻ cứng ở trong phòng để xào ma túy Ke, rồi cuộn tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng thành ống hút để sử dụng ma túy Ke. Thấy V để ma túy trên mặt bàn, T lấy 1/2 viên ma túy kẹo để sử dụng. Khoảng 10 phút sau có Dương Thùy Dương, sinh ngày 18/12/2007, hộ khẩu thường trú tổ 17, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, thành phố HN và Nguyễn Thị Yến Nhi, sinh ngày 13/12/2004, hộ khẩu thường trú thôn Xuân Nê, xã Khánh Hà, huyện Thường Tín, thành phố HN là 02 nhân viên phục vụ đến vào phòng hát. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày D đến quán hát, lúc này tại phòng hát số 03 của quán Karaoke Quang Dũng T&T có 05 người gồm V, T, D, Dương, Nhi cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Đến 00 giờ 10 phút ngày 12/11/2022 thì bị tổ công tác của Công an huyện TO phối hợp cùng Công an xã MH phát hiện bắt quả tang.
Tang vật, tài sản thu giữ:
- 01 túi zip màu trắng kích thước (9x5,5)cm bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng nghi là ma túy, được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký Nguyễn Văn V (ký hiệu M1);
- 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn đường kính 30cm và 01 thẻ nhựa cứng màu trắng, được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký Nguyễn Văn V (ký hiệu M2)
- 01 ống hút được cuộn bằng tờ tiền Polyme mệnh giá 20.000 đồng, được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký Nguyễn Văn V (ký hiệu M3);
- 01 đầu ghi hình nhãn hiệu Dahua màu đen, cũ đã qua sử dụng mã DH-XVR4116HS-X, số S/N 6B023CFPAZEBEOD;
- 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi Model M1806E7TG của Nguyễn Thị Yến Nhi;
- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen số máy MH3F3LL/A, số seri máy DX5GG362KXKN của Nùng Văn Hạnh;
- 01 điện thoại Iphone màu vàng số máy MKQ72LL/A, số seri máy C6KQC1LLGRXT của Nguyễn Công D;
- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen số máy NT6F2LL/A, số seri máy GR6Z81DSKPHC của Nguyễn Quang T;
- 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7, số máy MN9U2LL/A, số Imei: 356391100874034 và 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A55, số Imei 1: 866787052299034, số Imei 2: 866787052299026 của Nguyễn Văn V.
Tại bản kết luận giám định số 7821/KL-KTHS ngày 19/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố HN kết luận:
- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong (ký hiệu M1) khối lượng 1,88 gam là ma túy loại Ketamine;
- 01 đĩa sứ hình tròn đường kính 30cm và 01 thẻ nhựa màu trắng (ký hiệu M2) đều có dính ma túy loại Ketamine;
- 01 ống hút được quấn bằng tờ tiền Việt Nam loại 20.000 đồng (ký hiệu M3) có dính ma túy loại Ketamine.
Tại bản kết luận giám định số 7852/KL-KTHS ngày 21/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố HN kết luận:
- Trong các mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn V, Nguyễn Công D, Nguyễn Quang T, Nguyễn Thị Yến Nhi ký hiệu lần lượt là M1, M2, M3, M4 gửi giám định ngày 13/11/2022 đều có tìm thấy ma túy loại Ketamine và ma túy MDMA;
- Trong mẫu nước tiểu ký hiệu M5 của Dương Thùy Dương gửi giám định ngày 13/11/2022 có tìm thấy ma túy Ketamine;
- Trong mẫu nước tiểu ký hiệu M6 của Nùng Văn Hạnh gửi giám định ngày 13/11/2022 không tìm thấy chất ma túy.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TO, Thành phố HN thực hiện quyền công tố, luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng số: 38/CT – VKS ngày 25/5/2023.
Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V mức hình phạt từ: 07 (bảy)năm tù đến 07(bảy) năm 06(sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam về tội: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Về phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung bởi bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.
Về án phí: bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị HĐXX xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn V không bào chữa và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ;
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy trình Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn V không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và tại phiên tòa không kêu oan. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
.Về tội D và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, lời khai người liên quan, nhân chứng, tang vật thu giữ và các tài liệu được thu thập hợp pháp khác có trong hồ sơ đã được kiểm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để xác định:
Ngày 11/11/2022, Nguyễn Văn V rủ Nguyễn Quang T, Nguyễn Công D đi hát Karaoke. Sau đó V đi đến khu vực cầu Vân thuộc địa phận xã Khánh Hà, huyện Thường Tín, thành phố HN mua được của một người phụ nữ không quen biết 04 viên ma túy Kẹo, 01 chỉ ma túy Ke với số tiền 6.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy thì Nguyễn Văn V, Nguyễn Quang T, Nguyễn Công D cùng Nguyễn Thị Yến Nhi, sinh ngày 13/12/2004, Dương Thùy Dương, sinh ngày 18/12/2007 chưa đủ 18 tuổi, sử dụng trái phép số ma túy nêu trên tại quán hát Karaoke Quang Dũng T&T ở thôn Phượng Mỹ, xã MH, huyện TO, thành phố HN thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Bản Cáo trạng số: 38/CT – VKS ngày 25/5/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện TO, Tp. HN đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b,c khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 ( Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017)là có căn cứ đúng người, đúng pháp luật.
Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: …
b) Đối với 02 người trở lên.
c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;
Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động quản lý các chất cấm, gây nghiện, xâm phạm đến an ninh, trật tự địa phương, nơi công cộng và còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác phát sinh từ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo vì vậy cần có một mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
.Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
.Tình tiết tăng nặng: không
.Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về toàn bộ quá trình phạm tội của bản thân vì vậy cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
.Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo bởi bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.
Nguyễn Văn V khai nhận liên lạc, mua số ma túy nêu trên của một người phụ nữ không quen biết sử dụng số điện thoại 0325682673. Kết quả thu giữ điện tín thể hiện thông tin chủ thuê bao số điện thoại 0325682673 là Lê Thanh Hùng sinh năm 1979, trú tại xã Kdang, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Quá trình điều tra xác định Hùng không sử dụng số điện thoại này, không quen biết và không liên quan gì đến việc mua bán trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn V. Ngoài ra không có tài liệu, căn cứ nào khác để xác minh nhân thân, lai lịch của người bán ma túy cho V nên không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với người bán ma túy cho V trong vụ án này.
Đối với việc Nguyễn Quang T, Nguyễn Công D, Nguyễn Thị Yến Nhi, Dương Thùy Dương cùng sử dụng trái phép chất ma túy với Nguyễn Văn V tại quán hát Karaoke Quang Dũng T&T. Quá trình điều tra xác định T, D, Nhi, Dương không biết và không tham gia góp tiền để mua ma túy về sử dụng nên ngày 18/4/2023, Công an huyện TO quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T, D, Nhi, Dương về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội là có căn cứ nên không xem xét.
Quá trình điều tra xác định ngày 11/11/2022, Nùng Văn Hạnh được Lù Seo Lợi sinh năm 1993, hộ khẩu thường trú thôn Tà Đảm, xã Pờ Ly Ngài, huyện Hoàng Sa Phì, tỉnh Hà Giang là người quản lý quán hát Karaoke Quang Dũng T&T nhờ Hạnh trông hộ quán hát. Lợi, Hạnh không biết nhóm của Nguyễn Văn V sử dụng trái phép chất ma túy tại quán hát nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Lợi, Hạnh là có căn cứ.
Đối với Đinh Thị Quyên sinh năm 1990 và chồng Nguyễn Bá Dũng sinh năm 1987, cùng trú tại thôn Phượng Mỹ, xã MH, huyện TO, thành phố HN là chủ quán hát Karaoke Quang Dũng T&T. Quá trình điều tra xác định Quyên, Dũng không biết nhóm của Nguyễn Văn V sử dụng trái phép chất ma túy tại quán hát nên cơ quan điều tra không xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự đối với Quyên, Dũng. Ngày 24/4/2023, cơ quan điều tra có văn bản số 418/CSĐT đề nghị đội Cảnh sát quản lý hành chính và trật tự xã hội Công an huyện TO xem xét xử lý về hành vi phòng chống và kiểm soát ma túy là có căn cứ.
Đối với việc Nguyễn Văn V nhờ Nguyễn Đăng Sơn đổi tiền chuyển khoản cho V để V lấy 7.000.000 đồng tiền mặt của Sơn. Tuy nhiên Sơn không biết việc V đổi tiền mặt để đi mua ma túy, không được hưởng gì từ việc đổi tiền này cho V nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với Sơn là có căn cứ.
Đối với 04 chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Quang T, Nguyễn Công D, Nguyễn Thị Yến Nhi, Nùng Văn Hạnh. Quá trình điều tra xác định các điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn V nên ngày 18/4/2023, cơ quan điều tra trả lại 01 điện thoại nhãn hiệu Xiaomi cho Nguyễn Thị Yến Nhi, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen cho Nùng Văn Hạnh, 01 điện thoại Iphone màu vàng cho Nguyễn Công D, 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu đen cho Nguyễn Quang T là có căn cứ.
Đối với 01 đầu ghi hình nhãn hiệu Dahua màu đen thu giữ tại quán Karaoke Quang Dũng T&T. Cơ quan điều tra tiến hành trích xuất, sao lưu dữ liệu ra USB và ngày 18/4/2023 trả lại chiếc đầu ghi hình này cho chị Đinh Thị Quyên chủ quán hát Karaoke Quang Dũng T&T là có căn cứ.
.Về tang vật: Chất ma túy, 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa trong phong bì thư hoàn lại sau giám định cần tiêu hủy, đối với điện thoại của V liên quan đến việc mua ma túy cần tịch thu sung công, trả lại bị cáo V 01 điện thoại Iphon 7 không dùng mua ma túy, tịch thu sung công tờ tiền 20.000 đồng.
.Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 bị cáo V phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
.Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH;
. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn V, phạm tội: “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
. Áp dụng: Điểm b,c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 điều 51, điều 38 bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Nguyễn Văn V: 07(bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam là ngày 12/11/2022.
. Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điểm a khoản 2,3 Điều 106 BLTTHS năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy:
02 phong bì thư hoàn lại sau giám định của phòng PC09 – Công an HN có chữ ký của bị cáo Nguyễn Văn V đồng chí Nguyễn Ngọc Ng và giám định viên tại các mép dán bên trong có chứa chất ma túy và 01 thẻ nhựa.
01 đĩa sứ tròn màu trắng đường kính 30cm hoàn lại sau giám định được niêm phong dán kín Nội có chữ ký của bị cáo Nguyễn Văn V đồng chí Nguyễn Ngọc Ng và giám định viên tại các mép dán.
Tịch thu phát mãi sung công: 01 chiếc điện thoại OPPO A5, số Imel 1-866787052299034; số Imel 2 - 8667870529926 màu xanh sẫm, màn hình cảm ứng, điện thoại lắp sim số: 0326.631.987, điện thoại qua sử dụng được niêm phong trong phong bì thư có chữ ký niêm phong của Nguyễn Văn V và tờ tiền Việt Nam loại 20.000 đồng.
Trả lại bị cáo Nguyễn Văn V 01 chiếc điện thoại Iphon 7, số máy MN9U2LL/A, số Imel 35639110874034, màu đen, màn hình cảm ứng, điện thoại lắp sim số: 0966.979.869, điện thoại qua sử dụng không liên lạc để mua ma túy.
Toàn bộ tang vật, vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra công an huyện TO và Chi cục thi hành án Dân sự huyện TO lập ngày 20 tháng 6 năm 2023.
. Án phí và quyền kháng cáo của bị cáo: Áp dụng các điều 136.331.333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn V phải nộp: 200.000 đồng tiền( Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện, người bảo vệ quyền lợi cho người liên quan có quyền kháng cáo đến phần liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND Tp.HN; - Sở Tư pháp HN; - VKSND Huyện TO; - Công an Huyện TO; - Những người tham gia tố tụng; - UBND xã VP; - Lưu Hồ Sơ vụ án. CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ NGUYỄN TIẾN HÙNG THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |