vanban.org

Bản án 43/2023/DS-ST — Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu khởi kiện của ông Phạm Văn D – bà Võ Thị P.

Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T phải có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn D – bà Võ Thị P 251.124.000 đồng (Hai trăm năm mươi một triệu, một trăm hai mươi bốn nghìn đồng.) Không chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn D – bà Võ Thị P buộc ông Trần Phú N1 phải có nghĩa vụ liên đới trả 251.124.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam — án dân sự — "Bà Tuyền vay tiền của ông Dũng nhưng không trả"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu khởi kiện của ông Phạm Văn D – bà Võ Thị P.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRI TÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 43/2023/DS-ST
Ngày: 26 – 9 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN – TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hồ Văn Dũng;

2. Bà Cao Thị Phương Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thái Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 184/2023/TLST-DS, ngày 03 tháng 8 năm 2023 về: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2023/QĐXX- DS ngày 07 tháng 9 năm 2023 giữa:

Đồng nguyên đơn: Ông Phạm Văn D, sinh năm: 1970 – bà Võ Thị P, sinh năm: 1968; cùng địa chỉ cư trú: Tổ A, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.

Đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1990; địa chỉ: tổ F, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: đường L, hẻm H, khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh An Giang, theo văn bản ủy quyền ngày 15/6/2023 của Văn phòng C.

Đồng bị đơn: Ông Trần Phú N1, sinh năm: 1969 – bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1970 (1965); cùng địa chỉ cư trú: Tổ A, khóm A, thị trấn B, huyện T, tỉnh An Giang.

(Tại phiên tòa có mặt bà N, bà T. Những người còn lại vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19/7/2023 với các tài liệu kèm theo và quá trình tố tụng tại tòa, nguyên đơn ông Phạm Văn D – bà Võ Thị P và người đại diện theo uỷ quyền cho ông D – bà P là bà Nguyễn Thị N trình bày:

Do quen biết người cùng xóm, thấy ông N1 – bà T hỏi vay, nên từ ngày 16/6al/2022 đến ngày 05/9al/2022 ông D – bà P cho ông N1 – bà T vay 03 lần. Cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Ngày 16/6al/2022 cho vay 100.000.000 đồng. Khi vay bà T có ký nhận nợ với ông D. Đối với khoản nợ này hai bên thỏa thuận lãi suất 04% tháng và thời hạn vay không nêu trong biên nhận, nhưng có thỏa thuận riêng là trong hạn 06 tháng phải trả. Sau khi nhận ông N1 – bà T chỉ trả lãi 01 tháng thì ngưng.

- Lần thứ hai: Ngày 16/7al/2022 cho vay 50.000.000 đồng. Khi vay bà T cũng có ký biên nhận với ông D và thỏa thuận lãi suất mỗi tháng 2.000.000 đồng và ông N1 – bà T có giao cho ông D – bà P 01 bản chính giấy chứng nhận QSD đất số 04880 do UBND huyện T cấp ngày 28/6/2004 mang tên Trần Phú N1 để làm tin. Từ sau khi vay đến nay ông N1 – bà T không trả vốn và cũng không trả lãi.

- Lần thứ ba: Ngày 05/9al/2022 ông N1 – bà T vay tiếp 65.000.000 đồng. Đối với khoản vay này không ký biên nhận, không thỏa thuận lãi suất, nhưng có thỏa thuận miệng riêng với nhau là sẽ bán căn nhà cấp 4 tại khóm A, thị trấn B giá 220.000.000 đồng để khấu trừ nợ của ông D – bà P. Nhưng sau đó, ông N1 – bà T không bán nhà và tiền thì cũng không trả.

Nay ông D – bà P yêu cầu ông N1 – bà T phải trả ngay tổng số nợ 215.000.000 đồng cùng với lãi suất theo quy định của pháp luật, tương ứng với thời gian vay.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

Đúng bà là vợ ông Trần Phú N1 và bà thừa nhận cá nhận bà có vay riêng của ông D – bà P, với hình thức chuyển nợ tiền đánh đề, nhưng chỉ vay 02 lần và việc vay này không liên quan đến ông N1. Nội dung: Bà P – ông D là chủ thầu đề, còn bà là người mua số đề của ông D – bà P, thời gian mua trong năm 2022. Quá trình mua, bà không tiền nên thiếu.

- Lần thứ nhất: Tính đến ngày 16/6al/2022 số tiền lên 100.000.000 đồng thì ông D – bà P bảo bà ký biên nhận nợ với ông D thì bà có ký và sau đó bà trả lãi cho ông D – bà P mỗi tháng theo 4% và trả đến tháng 3al/2023 thì ngưng.

- Lần thứ hai: Bà tiếp tục đánh đề của thầu ông D – bà P đến ngày 16/7al/2022 thì nợ 35.000.000 đồng. Lúc này bà có 01 giấy chứng nhận QSD đất số 04880 do UBND huyện T cấp ngày 28/6/2004 mang tên Trần Phú N1 đang thế chấp cho ngưới khác 15.000.000 đồng thì ông D – bà P mới đưa tiền mặt thêm cho bà 15.000.000 đồng mang trả cho người đó rồi nhận giấy chứng nhận QSD đất về đưa cho ông D – bà P làm tin, và bà ký biên nhận ngày 16/7al/2023 nợ ông D – bà P 50.000.000 đồng và sau đó bà trả lãi cho ông D – bà P mỗi tháng 2.000.000 đồng đến tháng 03al/2023 thì ngưng.

Riêng khoản vay ngày 05/9al/2022 mà ông D – bà P trình bày là hoàn toàn không có.

Nay với hoàn cảnh khó khăn bà xin trả mỗi tháng 1.000.000 đồng đến khi dứt nợ 150.000.000 đồng. Còn lãi suất thì bà xin giảm đứt.

Ông Trần Phú N1 đã được thông báo hợp lệ để tham dự phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải nhưng ông vắng mặt.

Tại biên bản lời khai ngày 07/92023 ông Trần Phú N1 trình bày: Ông là chồng của bà T, từ hơn 20 năm nay vợ chồng ông chỉ làm công nhân bán cây xăng ăn lương chứ không kinh doanh cũng không có đất ruộng canh tác. Việc vợ ông vay tiền của ông D – bà P như thế nào là ông hoàn toàn không biết. Riêng bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04880/mI do UBND huyện T cấp ngày 28/6/2004 mang tên Trần Phú N1, theo thửa 139, tờ bản đồ 04 diện tích 239,8m2 là vợ ông giữ và giao cho ông D – bà P khi nào ông không hay, ông chỉ mới nghe nói.

Nay với yêu cầu của ông D – bà P buộc ông phải có nghĩa vụ liên đới trả 215.000.000 đồng cùng với lãi suất là ông không đồng ý.

Giai đoạn hòa giải: Đại diện theo ủy quyền cho đồng nguyên đơn với bà T chỉ thống nhất 02 khoản nợ 150.000.000 đồng của các lần vay ngày 16/6al/2022 và 16/7al/2022 và ông D – bà P có nhận giữ 01 bản chính giấy chứng nhận QSD đất số 04880/mI do UBND huyện T cấp ngày 28/6/2004 mang tên Trần Phú N1. Các khoản còn lại các bên không thống nhất.

Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền cho nguyên đơn và bà T bảo lưu ý kiến của mình.

Quan điểm của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Ông D – bà P kiện ông N1 – bà T 03 khoản vay tổng cộng bằng 215.000.000 đồng, trong đó có khoản vay 65.000.000 đồng vào ngày 05/9al/2022 tuy bà T không thừa nhận, nhưng khi cho vay có bà Trần Thị N2 (T1) chứng kiến. Lời khai của bà T1 phù hợp với không gian, thời gian và địa điểm… như ông D – bà T trình bày, nên có cơ sở và đề nghị HĐXX chấp nhận. Bà T khai là tiền nợ đánh đề và có trả lãi đến tháng 3al/2023, cũng như ông D – bà T cho rằng số tiền vay bà T cùng sử dụng chung với ông N1 và yêu cầu cả hai có nghĩa vụ liên đới, nhưng các bên không có cơ sở gì chứng minh, nên đề nghị HĐXX không chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên. HĐXX nhận định:

. Về thủ tục: Xét lời khai giữa hai bên có mâu thuẫn nhau tiền vốn vay, lãi suất Thẩm phán cần thiết ban hành Quyết định đối chất, nhưng hai bên thống nhất yêu cầu không tiến hành đối chất, nên Thẩm phán ghi nhận ý kiến giữa các bên. Ông Trần Phú N1 đã được triệu tập hợp lệ để tham dự phiên tòa, nhưng ông có đơn đề nghị xét xử, do đó HĐXX tiến hành xét xử trong trường hợp đương sự vắng mặt, theo quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về quan hệ tranh chấp: Cho rằng tài sản của mình cho ông N1 – bà T vay, nhưng ông N1 – bà T không trả, căn cứ vào đơn khởi kiện, Tòa án xác định quan hệ: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thời hiệu - thẩm quyền: Thời gian cho vay là ngày 16/6al/2022 (tương đương ngày 16/7/2022), nhưng bà T không trả, nên ngày 19/7/2023 ông D – Bà P khởi kiện là còn thời hiệu theo quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự; ông N1 – bà T có địa chỉ cư trú tại huyện T, nên Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý giải quyết theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về nội dung: Hợp đồng vay giữa hai bên có lập thành văn bản, thỏa thuận vay trên nguyên tắc tự nguyện phù hợp pháp luật, nên được xem là hợp đồng vay hợp pháp. Tuy nhiên, về vốn vay, lãi suất và nghĩa vụ phải trả hai bên không thống nhất nhau, theo đó từng nội dung HĐXX xét thấy như sau:

. Về vốn vay:

Đối với khoản vay ngày 16/6al/2022 số tiền 100.000.000 đồng và khoản vay ngày 16/7al/2022 số tiền 50.000.000 đồng đã được bà T thừa nhận, nên bà T có nghĩa vụ trả cho ông D – bà P. Bà T cho rằng trong đó có 135.000.000 đồng là tiền nợ do bà đánh số đề của ông D – bà P, nhưng ông D – bà P không thừa nhận và bà cũng không có cơ sở gì chứng minh, nên HĐXX không có cơ sở xem xét phản bác này của bà.

Về khoản vay 65.000.000 đồng ngày 05/9al/2022, hai bên không làm giấy, bà T không thừa nhận. Tuy nhiên, tại biên bản xác minh ngày 06/9/2023, bà Trần Thị N2 (T1) cho biết như sau: “Hôm đó là ngày 05/9al/2022, bà P có hỏi vay của tôi 30.000.000 đồng. Khi hỏi vay bà P nói để nhập vào tiền của bà cho bà T – ông N1 vay. Vì bà P có tham gia hụi của tôi, hơn nữa tôi biết bà T và ông N1 nên tôi cho bà P vay (chỉ vay tạm, không nói thời hạn và lãi suất). Khi giao tiền cho bà P là tôi mang trực tiếp đến nhà bà P, lúc đó là khoảng hơn 16 giờ. Đến nhà bà P thì có mặt bà T, tôi giao qua cho bà P thì bà P có nhập vào tiền của bà P 35.000.000 đồng thành 65.000.000 đồng và bà P giao cho bà T tại bộ L văng nhà bà P…Khi giao 65.000.000 đồng không làm giấy, chỉ giao qua tay. Thời điểm giao tiền ngoài tôi bà P, bà T ngồi ở L văng trước nhà thì có ông D nằm trên võng bên trong nhà. Ngoài ra không còn ai khác”.

Xét thấy, giữa bà T, ông D – bà P với bà N2 (T1) là những người quen biết và hoàn toàn không mâu thuẫn nhau. Lời khai của bà T1 hoàn toàn phù hợp với trình bày của ông D – bà P cả về không gian, thời gian và địa điểm … nên dù bà T không thừa nhận, HĐXX cũng có đủ cơ sở xác định bà T có nhận vay của ông D – bà P về khoản tiền 65.000.000 đồng này. Như vật tổng cộng các khoản vay được xác định là 215.000.000 đồng như ông D – bà P đã khởi kiện.

. Về lãi suất:

Ông T khai: Có trả lãi cho ông D – bà P từ khi vay đến tháng 3al/2023, nhưng không có cơ sở chứng minh, nên HĐXX không có cơ sở xem xét. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn chỉ thừa nhận, nhận 01 tháng lãi của phần vay ngày 16/6al/2022 là 4.000.000 đồng, nên HĐXX chấp nhận.

Do khi vay hai bên thỏa thuận có trả lãi và tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu này, nên bà T còn phải trả lãi cho nguyên đơn. Tuy nhiên, mức lãi hai bên thỏa thuận 4% tháng là cao, nên cần phải điều chỉnh lại cho phù hợp với khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự quy định hiện nay là 20%/năm. Cụ thể như sau:

- Phần vốn vay 100.000.000 đồng ngày 16/6al/2022 (tương đương tháng 7/2022), đến nay tháng 9/2023 bằng 14 tháng. 100.000.000 đồng x 20% x (14/12)/năm = 23.333.000 đồng;

- Phần vốn vay 50.000.000 đồng ngày 16/7al/2022 (tương đương tháng 8/2022), đến nay tháng 9/2023 bằng 13 tháng. 50.000.000 đồng x 20% x (13/12)/năm = 10.833.000 đồng.

- Riêng phần vốn vay 65.000.000 đồng ngày 05/9al/2022 (tương đương tháng 10/2022), đến nay tháng 9/2023 bằng 11 tháng. Do các bên không thỏa thuận lãi suất, nên lãi suất được tính theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự quy định 10%/năm. Cụ thể. 65.000.000 đồng x 10% x (11/12)/năm = 5.958.000 đồng.

Tổng cộng vốn + lãi là: 215.000.000 đồng + 23.333.000 đồng + 10.833.000 đồng + 5.958.000 đồng = 255.124.000 đồng.

Khấu trừ 01 tháng tiền lãi phần vay 100.000.000 đồng là 4.000.000 đồng mà bà T đã trả cho ông D – bà P, 255.124.000 đồng - 4.000.000 đồng, còn lại 251.124.000 đồng phải trả cho ông D – bà P.

. Về nghĩa vụ trả:

Khi cho vay, chính ông D – bà P giao tiền trực tiếp cho bà T mà không giao cho cả ông N1 – bà T. Tại biên bản lời khai ngày 07/9/2023, bản thân ông N1 cũng không biết và không thừa nhận khoản vay này. Ông N1 còn khai: “Từ hơn 20 năm vợ chồng tôi chỉ làm công nhân bán cây xăng cho Tuyết P1 và Tuyết P1 cho Nhà nước thuê cây xăng thì vợ chồng tôi tiếp tục bán thuê ăn công hàng tháng, chứ không kinh doanh cũng không có đất ruộng gì cả”.

Trong khi ông D – bà P cho rằng: Số tiền vay cả bà T và ông N1 sử dụng chung để kinh doanh, nhưng kinh doanh ngành nghề gì thì ông D – bà P không chứng minh và bà T còn khai là do đổ cây xăng bị lậm tiền nên vay để vợ chồng cùng trả, nhưng có lậm hay không thì ông D – bà P cũng không biết.

Tại phiên tòa, theo yêu cầu của HĐXX đề nghị đại diện ủy quyền cho nguyên đơn chứng minh số tiền trên bà T có sử dụng vào nhu cầu thiết yếu của gia đình thì không chứng minh được, nên không có cơ sở buộc ông N1 có nghĩa vụ liên đới mà nghĩ nên chỉ buộc cá nhân bà T trả ông D – bà P là phù hợp.

. Đối với bản chính giấy chứng nhận QSD đất số 04880 do UBND huyện T cấp ngày 28/6/2004 mang tên Trần Phú N1. Xét thấy, khi vay hai bên chỉ giao nhận cho nhau để làm tin mà không thông qua hợp đồng nào khác và tại phiên tòa các bên cũng không có yêu cầu gì đối với bản chính giấy chứng nhận QSD đất này, nên HĐXX không đề cặp giải quyết.

. Về án phí: Do yêu cầu của đồng nguyên đơn được chấp nhận, nên đồng nguyên đơn không chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn lại tiền tạm ứng án phí mà đồng nguyên đơn đã nộp. Riêng bà T phải chịu án phí dân sự đối với nghĩa vụ của bà trả cho ông D – bà P 251.124.000 đồng, theo quy định tại các khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu khởi kiện của ông Phạm Văn D – bà Võ Thị P.

Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T phải có nghĩa vụ trả cho ông Phạm Văn D – bà Võ Thị P 251.124.000 đồng (Hai trăm năm mươi một triệu, một trăm hai mươi bốn nghìn đồng.)

Không chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn D – bà Võ Thị P buộc ông Trần Phú N1 phải có nghĩa vụ liên đới trả 251.124.000 đồng.

Kể từ khi có đơn yêu cầu Thi hành án, bên phải Thi hành án không thi hành đầy đủ khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi, theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với thời gian và khoản tiền chưa thi hành án.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh T phải chịu 12.556.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn hoàn trả cho ông Phạm Văn D – bà Võ Thị P 5.375.000 đồng tiền tạm ứng án phí, theo biên lai thu số 0010217 ngày 31/7/2023.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26/9/2023), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ