vanban.org

Bản án 43/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Tuyên án 23/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Trần Văn H và bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Cƣớp giật tài sản"

Xử phạt bị cáo Trần Văn H 45 (Bốn mƣơi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 07/3/2022 Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 39 (Ba mƣơi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 07/3/2022 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn H+ Đp Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Trần Văn H và bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Cƣớp giật tài sản"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43 /2022/HS- ST
Ngày: 23 - 8 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ - TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hồng

2. Ông Phạm Xuân Sang

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh, Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 43/2022/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Trần Văn H, sinh năm 1994.

Nơi cƣ trú: thôn Đồng T, xã Tiên Đ, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn Dũng và bà Phạm Thị Lƣơng (đã chết); Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/3/2022, chuyển tạm giam từ ngày 10/3/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng.

2. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1997.

Nơi cƣ trú: thôn An T, xã Quang T, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Định (đã chết) và bà Bùi Thị Thuật; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/3/2022, chuyển tạm giam từ ngày 10/3/2022 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dƣơng.

- Bị hại:

Chị Lê Thị A, sinh năm 1979; địa chỉ: Thị Tứ Quang P, xã Quang P, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng.

- Người làm chứng:

1. Anh Vũ Văn K, sinh năm 1979

2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985

3. Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 2000

4. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1997

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo H, Đ. Vắng mặt bị hại và những ngƣời làm chứng).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Trần Văn H và Nguyễn Văn Đ là bạn bè. Cuối tháng 01/2022 H, Đ thuê phòng trọ tại nhà nghỉ Mai Về, địa chỉ ở xã Nguyên Giáp, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng để ở. Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên H rủ Đ đi cƣớp giật tài sản, Đ đồng ý. Khoảng 10 giờ ngày 10/02/2022, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn trắng đen bạc, BKS: 90B1-687.63 chở Đ đi từ nhà nghỉ Mai Về theo đƣờng tỉnh 391 về hƣớng thành phố Hải Dƣơng. H chở Đ đi lòng vòng qua địa phận xã Hƣng Đạo và xã Quang Phục, huyện Tứ Kỳ, mục đích tìm ngƣời đi đƣờng có tài sản sơ hở sẽ cƣớp giật. Khoảng 15h cùng ngày H chở Đ đi từ đƣờng tỉnh 391 vào đƣờng 391 cũ thuộc thôn Thị Tứ, xã Quang Phục thì phát hiện chị Lê Thị A, sinh năm: 1979, HKTT: Thôn Thị Tứ, xã Quang Phục, huyện Tứ Kỳ điều khiển xe đạp điện đi ngƣợc chiều ra đƣờng tỉnh 391. Chị Anh quấn 01 túi áo mƣa vào tay cầm bên trái xe đạp điện (túi áo mƣa KT: 26,5x25cm, một mặt màu trắng, một mặt màu đỏ, miệng túi có gắn hai cúc bấm màu trắng, hình tròn). Bên trong túi có 01 điện thoại Iphone 7, vỏ màu đen, ốp lƣng màu hồng, lắp sim số 0973.941.009; 01 thẻ thanh toán tiền điện mang tên Lê Thị A và số tiền 472.000 đồng. H điều khiển xe quay lại và bảo Đ: "Túi kìa giật luôn nhé", Đ trả lời: "Vâng, chơi luôn". H điều khiển xe mô tô từ phía sau lên áp sát bên trái chị Anh, Đ ngồi sau dùng tay giật chiếc túi áo mƣa của chị Anh làm chị Anh bị loạng choạng tay lái, xe lao lên vỉa hè bên phải theo hƣớng đi rồi cả ngƣời, cả xe đổ ngã xuống nền bê tông. Sau khi giật đƣợc túi, H tiếp tục điều khiển xe mô tô chở Đ ra đƣờng tỉnh 391 hƣớng thành phố Hải Dƣơng. Trên đƣờng đi Đ mở túi áo mƣa lấy điện thoại Iphone 7; thẻ thanh toán tiền điện và số tiền 472.000 đồng cho vào túi quần, vứt túi áo mƣa ở lề đƣờng 391, khu vực gần chân cầu vƣợt đƣờng cao tốc Hà nội - Hải Phòng (đoạn cầu vượt Ngọc đường). Đ tháo ốp lƣng điện thoại thẻ thanh toán tiền điện vứt trên đƣờng (không xác định được địa chỉ). Sau đó cả hai về nhà nghỉ Mai Về. Tại nhà nghỉ Đ đƣa cho H số tiền hơn 300.000 đồng, chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 màu đen. H đƣa cho Đ 200.000 đồng để trả tiền nhà nghỉ. Số tiền còn lại Đ và H chi tiêu hết.

Sáng ngày 11/2/2022 H nhờ Nguyễn Văn T, sinh năm: 1985, Trú tại: Thôn An Hộ, xã Quang Trung, huyện Tứ Kỳ (là bạn) đến nhà anh Vũ Văn K, sinh năm: 1979, HKTT: Thôn Đông Nham 1, xã Quốc Tuấn, huyện An Lão, tp Hải Phòng (bạn của Tuyền) để vay anh Khoát vay số tiền 3.000.000 đ để tiêu sài cá nhân. H gửi lại tại nhà anh Khoát xe mô tô nhãn hiệu Hon da, loại xe wave, màu trắng bạc, BKS: 90B1-687.63. Đến khoảng 8h ngày 07/3/2022 khi H, Đ đang đi trên đƣờng tỉnh 391 gần khu vực nhà nghỉ Mai Về thì bị tổ công tác Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện triệu tập (H, Đ đang mặc trang phục giống thời điểm cƣớp giật tài sản ngày 10/2/2022). Quá trình làm việc Trần Văn H, Nguyễn Văn Đ đã khai nhận hành vi cƣớp giật tài sản của chị Lê Thị A ngày 10/2/2022. Cơ quan Công an đã thu giữ trên ngƣời H điện thoại nhãn hiệu Iphone 7, đã cƣớp giật đƣợc của chị Anh (điện thoại không lắp sim do trƣớc đó H đã tháo sim vứt ở trên đƣờng, không xác định đƣợc vị trí cụ thể). Bút lục số: 12- 21; 38-39; 43- 47; 63-83;126- 129; 131- 132; 135- 136; 163-166; 173- 177; 207- 210; 212-217; 220- 223; 255- 263)

Tại bản kết luận định giá tài sản số 04 /KL-GĐTS ngày 25/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tứ Kỳ kết luận: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 7, màu đen, dung lƣợng 32 Gb, số máy MN8X2VN/A, số sse ri: F72T6RZEHG7F. Chiếc điện thoại đƣợc mua năm 2017 giá 16.000.000 đồng. Tại thời điểm ngày 10/02/2022 tài sản có giá trị 2.900.000 đồng (Bút lục số: 184)

Tại bản cáo trạng số 35/CT-VKSTK, ngày 30/6/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố: Bị cáo Trần Văn H và bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội Cƣớp giật tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình công nhận quyết định truy tố của VKSND huyện Tứ Kỳ là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại là chị Lê Thị A có đơn xin xét xử vắng mặt và trình bày quan điểm gia đình các bị cáo đã bồi thƣờng cho chị số tiền mà các bị cáo đã chiếm đoạt, chị đã nhận đủ và không yêu cầu bồi thƣờng gì thêm. Về trách nhiệm dân sự chị đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX ) tuyên bố bị cáo Trần Văn H và bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội Cƣớp giật tài sản; áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS đối với các bị cáo và xử phạt bị cáo H từ 45 - 48 tháng tù; xử phạt bị cáo Đ từ 39 - 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ. Ngoài ra Đ diện VKS còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản xác định hiện trƣờng, bản ảnh hiện trƣờng, vật chứng đã thu giữ, phù hợp với các bản kết luận giám định, lời khai của bị hại, ngƣời làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15h ngày 10/2/2022 tại khu vực đƣờng 391 cũ thuộc thôn Thị Tứ, xã Quang Phục, huyện Tứ Kỳ, Trần Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn trắng đen bạc, BKS: 90B1-687.63 để Nguyễn Văn Đ ngồi sau cƣớp giật 01 túi áo mƣa của chị Lê Thị A, sinh năm: 1979, HKTT: Thôn Thị Tứ, xã Quang Phục, huyện Tứ Kỳ. Bên trong túi áo mƣa có 01 điện thoại Iphone 7, số tiền 472.000 đồng và thẻ thanh toán tiền điện mang tên Lê Thị A.

Các bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc hành vi dùng xe máy để sử dụng vào việc cƣớp giật tài sản là vi phạm pháp luật nhƣng vẫn cố ý thực hiện, nên hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cƣớp giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS. Do đó cáo trạng của VKSND huyện Tứ Kỳ truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của cá nhân đƣợc pháp luật bảo vệ nên cần phải đƣợc xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Trong vụ án H là ngƣời rủ Đ thực hiện hành vi cƣớp giật tài sản nên giữ vai trò chính và là ngƣời thực hành tích cực, Đ giữ vai trò đồng phạm.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thƣờng cho bị hại số tiền mà các bị cáo đã chiếm đoạt, bị hại có ý kiến đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên các bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Các bị cáo tuổi đời còn trẻ nhƣng không chịu lao động kiếm tiền một cách chính đáng mà lại thực hiện hành vi phạm tội để có tiền tiêu xài cá nhân và việc các bị cáo dùng xe máy để cƣớp giật tài sản của những ngƣời đi đƣờng có thể khiến cho những ngƣời này bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe nên dù có giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thì vẫn cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhƣ vậy mới có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo cũng nhƣ có tác dụng phòng ngừa chung. Trong vụ án, bị cáo H là ngƣời rủ bị cáo Đ, trực tiếp điều khiển xe máy để tìm ngƣời có sơ hở trong việc quản lý tài sản và bảo bị cáo Đ thực hiện hành vi cƣớp giật nên bị cáo H phải chịu hình phạt cao hơn bị cáo Đ mới bảo đảm sự công bằng giữa các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét giải quyết

Về xử lý vật chứng: đối với 01 biển số xe 90B1 - 687.63 cần tịch thu tiêu hủy.

Trong vụ án, anh Vũ Văn K không biết xe mô tô H gửi tại nhà mình là phƣơng tiện H và Đ sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, nên không đặt ra vấn đề xử lý là phù hợp quy định của pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố:

- Bị cáo Trần Văn H và bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội "Cƣớp giật tài sản"

- Xử phạt bị cáo Trần Văn H 45 (Bốn mƣơi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 07/3/2022

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 39 (Ba mƣơi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 07/3/2022

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điêu 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 01 biển số xe 90 B1 - 687.63

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 06/7/2022 ).

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS, Luật số 97/2015 về phí và lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016 của UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn H và bị cáo Nguyễn Văn Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mƣời lăm ngày), kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 23/8/2022./.

Cỡ chữ