- Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố bị cáo Phan Thị C S (C) phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2021/HS-ST Ngày: 12-11-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Hùng Cường.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Võ Thanh Hải
2. Ông Huỳnh Ngọc Trứ
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn, là cán bộ Tòa án nhân thị xã Cai Lậy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trân Quốc Vương, Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 40/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 6 năm 2021. Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2021, đối với bị cáo.
Phan Thị C S (C), sinh ngày 21/7/1989; Tại Tiền Giang; Chứng minh nhân dân: 311989XXX; Nơi cư trú: ấp Đ, xã H, huyện P, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Văn T, sinh năm 1966 (đã chết) và bà: Võ Thị M, sinh năm 1968; Chồng: Ngô Ngọc H, sinh năm 1983; Con có 02 đứa, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án; Tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)
*Bị hại: Võ Thị V, sinh năm 1969. (Có mặt)
Địa chỉ: ấp R, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
* Người làm chứng:
Ngô Văn C, sinh năm 1972. (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp V, xã L, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghi ngờ bà Võ Thị V dùng tài khoản mạng xã hội nói xấu mình nên khoảng 15 giờ 30 phút ngày 04/9/2020, Phan Thị C S điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 63B8-082.51 của chồng là Ngô Ngọc H đến cửa hàng nông nghiệp H để tìm bà V. Tại đây S không gặp bà V nên lớn tiếng mắng chửi, dùng thùng nhựa đựng nước đá đập làm hư hỏng 01 tấm kính cửa hàng bằng thủy tinh loại 04 li, kích thước (1,16x0,48) mét, 01 cái ghế nhựa. S dùng tay cầm điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Pro để trên bàn đập mạnh xuống nền nhà làm điện thoại bị hư hỏng, S dùng tay làm rơi 03 chậu kiểng để trên bàn, sau đó S đi ra phía trước dùng gạch ống đập vào xe và đẩy ngã xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ, biển kiểm soát 63B2-552.49 của bà V làm hư hỏng 01 kính chiếu hậu bên phải, chắn bùn trước và ốp nhựa sau bên phải của xe.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) điện thoại Samsung màu đen;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển kiểm soát 63B8-082.51;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển kiểm soát 63B2-552.49;
- 01 dĩa DVD-R chứa dữ liệu file ghi hình có âm thanh diễn biến sự việc.
Kết luận định giá tài sản số 143 ngày 14/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Cai Lậy kết luận: 01 điện thoại Samsung Galaxy J2 Pro, màu đen trị giá 3.160.000đ; 01 tấm kính thủy tinh loại 04mm, có hoa văn nổi, kích thước (1,16x0,48) m trị giá 95.000đ; 01 kính chiếu hậu bên phải trị giá 68.800đ; 01 chắn bùn trước trị giá 189.000đ; 01 ốp sườn sau bên phải trị giá 216.000đ. Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là 3.691.000 đồng.
Về vật chứng: Ngày 18/5/2021, cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Cai Lậy đã trao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển kiểm soát 63B8-082.51 cho chủ sở hữu là Ngô Ngọc H; trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển kiểm soát 63B2-552.49 cho bà Võ Thị V.
Đối với thùng nhựa đựng nước đá và ba chậu kiểng do S đập phá, sau khi sự việc xảy ra, bà V đã dọn dẹp vứt bỏ, bà V cũng không rõ nhãn hiệu, kích thước và giá trị của các vật trên nên không có căn cứ xem xét định giá xử lí. Riêng cục gạch ống S dùng để đập xe Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bà Võ Thị V số tiền 800.000đ.
Cáo trạng số 49 ngày 22 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy truy tố Phan Thị C S về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 178, điểm b, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của BLHS.
Tuyên bố bị cáo Phan Thị C S phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù. Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự: Đề nghị tuyên tiêu hủy vật chứng đang tạm giữ. Buộc bị cáo bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại.
- Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Việc vắng mặt của người làm chứng: Xét thấy, trong giai đoạn điều tra người làm chứng đã được Cơ quan điều tra lấy lời khai đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nên việc vắng mặt của ông Ngô Văn C vẫn không làm ảnh hưởng đến việc xét xử đối với các bị cáo tại phiên tòa. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại khoản 1 của 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về chứng cứ xác định tội danh:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của bị cáo đúng với nội dung bản cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát thị xã Cai Lậy. Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo đã phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Cụ thể khoảng 15 giờ 30 phút ngày 04/9/2020, tại ấp J, xã L, thị xã C, Phan Thị C S đã có hành vi đập phá làm hư hỏng nhiều tài sản của bà Võ Thị V với tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 3.691.000đ. Cho nên có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Phan Thị C S đã phạm vào tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, do nghi ngờ bà Võ Thị V nói xấu mình trên mạng xã hội, đáng lý ra bị cáo phải tìm hiểu xem có đúng hay không để có biện pháp giải quyết sao cho phù hợp nhưng trái lại bị cáo đã đến cửa hàng vật tư nông nghiệp nơi bà V đang kinh doanh mua bán rồi đập phá làm hư hỏng nhiều loại tài sản của bà V. Hành vi này không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, cho nên phải được xử lý bằng pháp luật hình sự mới có tính giáo duc và phòng ngừa.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội khi đang mang thai, tự nguyện khắc phục một phần hậu quả, có bà ngoại và dì tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
Sau khi xem xét toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi do bị cáo thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là giới nữ đang nuôi con nhỏ, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lý lịch rõ ràng. Cho nên nghĩ cần áp dụng hình phạt chính bằng tiền cũng đủ tính răn đe và cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện.
Về vật chứng: Đối với các vật chứng hiện đang tạm giữ hiện không còn giá trị sử dụng nghĩ nên tịch thu tieu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ án bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bà V số tiền 800.000đ. Tại Tòa bà V yêu cầu bị cáo ngoài số tiền 3.691.000đ đã định giá thì phải bồi thường tiếp 03 chậu kiểng (180.000đ/chậu) và 01 thùng nước đá 100.000đ, tổng cộng các khoản là 4.331.000đ. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bà V, đối với số tiền 800.000đ bà V đã nhận bị cáo tự nguyện không cấn trừ. Xét thấy đây là quyền tự định đoạt của bị cáo không bị ép buộc và có lợi cho bị hại nên được ghi nhận.
Xét lời đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở. Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, i, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.
1/ Tuyên bố bị cáo Phan Thị C S (C) phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Thị C S số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
2/ Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
+ Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) điện thoại Samsung màu đen.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy).
3/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 357, 468, 585, 589 Bộ luật dân sự.
Ghi nhận việc bị cáo tự nguyện bồi thường tiếp cho bà Võ Thị V số tiền 4.331.000đ.
Kể từ ngày bà Võ Thị V có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo chậm thi hành thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
4/ Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy đình về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng về án phí và lệ phí Tòa án.
5/ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 332, 333, 334 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Phan Thị C S và bà Võ Thị V có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND Thị xã Cai Lậy; - Chi cục THADS Thị xã Cai Lậy; - CAND Thị xã Cai Lậy; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa MAI VĂN HÙNG CƯỜNG Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa |