vanban.org

Bản án 43/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên Tuyên án 23/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Giàng A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Giàng A L 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 14/5/2020. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 33 Luật Hôn nhân và … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "GIàng A L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MƢỜNG NHÉ
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 43/2020/HS-ST
Ngày 23-9-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƢỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Nhung

Các hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Phốn

Ông Trịnh Xuân Phùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Công Hoàn-Thư ký Toà án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 23/9/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên. Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 45/2020/TLST-HS ngày 28/8/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2020/QĐXXST-HS ngày 10/9/2020 đối với bị cáo:

Giàng A L (Tên gọi khác: không); Sinh năm 1984 tại xã S, huyện T, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Bản H, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hoá: không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng A X (sinh năm 1932) và bà Sùng Thị D (sinh năm 1934); Có vợ là Sùng Thị D (sinh năm 1997) và có 04 con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 12/11/2014 bị Tòa án nhân dân huyện M xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/5/2020 đến ngày 23/5/2020; tạm giam từ ngày 23/5/2020 đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Pờ Go L- Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Sùng Thị D, sinh năm 1997, nơi cư trú: Bản H, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ ngày 13/5/2020,Giàng A L một mình điều khiển xe mô tô Wave RSX của gia đình đi tìm mua ma túy về sử dụng, đến khoảng 18 giờ cùng ngày L đi đến bản Đ, xã Ph, huyện N, tỉnh Điện Biên thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông và nhờ ông ta mua cho 84 viên Methamphetamine với giá 550.000 đồng, L trả công cho người đàn ông đi mua ma túy hộ là 20.000 đồng, nhận tiền công người đàn ông đó đi đâu L không rõ, còn L cất giấu số Methamphetamine mua được và đi về nhà, do trời tối nên L ngủ qua đêm tại một lán nương ven đường và lấy 03 viên Methamphetamine ra sử dụng. Sáng hôm sau L mới ra về, khoảng 12 giờ ngày 14/5/2020 L trên đường quay về đến đầu bản Đ, xã Ch, huyện M thì bị tổ công tác Đồn biên phòng L phối hợp với Công an xã Ch phát hiện bắt quả tang và thu giữ trong cốp xe mô tô Wave RSX của Lử 81 viên Methamphetamine, thu giữ xe mô tô, một điện thoại di động hiệu Itel và một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Vàng A S. L khai nhận mục đích mua Methamphetamine về sử dụng cho bản thân.

Kết luận giám định số 420/GĐ-PC09 ngày 20/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu viên nén màu hồng gửi giám định trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng A L là Methamphetamine; Khối lượng vật chứng thu giữ của Giàng A L là 7,8 gam.

Theo đối chiếu với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy (mang tên Vàng A S) thu giữ của bị cáo thì chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen bạc, số máy JC43E5962625, số khung 4324BY607765 có biển kiểm soát là 27S1-086.44.

Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐ ĐGTSTTHS ngày 05/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Mường Nhé kết luận: Giá trị thực tế của chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX, màu đỏ đen bạc, số máy JC43E5962625, số khung 4324BY607765, xe cũ đã qua sử dụng có giá là 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).

Cáo trạng số 44/CT-VKS-MN ngày 27/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Giàng A L để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố, phần luận tội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Giàng A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 đến 06 năm tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy: 7,59 gam Methamphetamine còn lại sau khi đã trích giám định; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước ½ giá trị chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen bạc, xe không có biển kiểm soát, số máy JC43E5962625, số khung 4324BY607765; trả lại cho vợ bị cáo là chị Sùng Thị D ½ giá trị chiếc xe máy trên (kèm chìa khóa xe) và một đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Vàng A S; Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, nhất trí với luận tội về tội danh; điều khoản áp dụng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng vụ án và án phí; Về phần hình phạt chính đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã tóm tắt ở trên và đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Sùng Thị D khai: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen bạc, số máy JC43E5962625, số khung 4324BY607765 có biển kiểm soát là 27S1-086.44 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo. Do khi mua xe vợ chồng bị cáo chưa có chứng minh nhân dân nên nhờ Vàng A S là em rể đứng tên hộ. Chị D và anh S đều không biết gì về việc bị cáo L dùng xe mô tô này để đi mua ma túy. Chị D đề nghị xin lại một nửa giá trị chiếc xe mô tô này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét hành vi phạm tội và những căn cứ xác định tội danh của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo khai: Ngày 13/5/2020 bị cáo mua được 7,8 gam Methamphetamine của một người đàn ông dân tộc Mông lạ mặt với giá 550.000 đồng tại bản Đ, xã Ph, huyện N,tỉnh Điện Biên. Hồi 12 giờ ngày 14/5/2020 khi bị cáo đang trên đường quay về đến bản Đ, xã Ch, huyện M thì bị bắt quả tang đang cất giấu 7,8 gam Methamphetamine trong cốp xe mô tô hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen bạc, số máy JC43E5962625, số khung 4324BY607765, xe không có biển kiểm soát. Bị cáo khai bị cáo mua Methamphetamine với mục đích để sử dụng vì bản thân nghiện ma túy. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai và các bản cung có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với kết luận giám định, kết luận điều tra, cáo trạng truy tố và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng số 44/CT-VKS-MN ngày 27/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé truy tố bị cáo để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án rất nghiêm trọng về ma túy, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đi ngược lại đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành án xong, đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân để tu dưỡng rèn luyện chấp hành đúng quy định pháp luật mà lại thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên phải bị xét xử như ngày hôm nay. Tuy nhiên quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần xử phạt bị cáo nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 05 đến 06 năm tù. Người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Xét đề nghị của viện kiểm sát và người bào chữa là có căn cứ, hợp pháp nên cần xử phạt bị cáo như đề nghị của Viện Kiểm sát và người bào chữa.

Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo khó khăn, hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Đối với đối tượng người đàn ông dân tộc Mông đã mua ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi địa chỉ của người này, Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh nên không có cơ sở để xử lý.

Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Sùng Thị D, quá trình điều tra đã làm rõ chị D không biết gì về việc bị cáo L đi mua ma túy nên không đặt vấn đề xử lý về hình sự đối với chị D trong vụ án này.

Đối với anh Vàng A S, là người đứng tên hộ cho bị cáo Giàng A L khi bị cáo L đi mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen bạc, số máy JC43E5962625, số khung 4324BY607765 có biển kiểm soát là 27S1-086.44. Anh S không biết gì về việc bị cáo L đi mua ma túy nên không xem xét xử lý trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng: Đối với 7,59 gam Methamphetamine còn lại sau khi đã trích giám định cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen bạc, số máy JC43E5962625, số khung 4324BY607765, xe không có biển kiểm soát: Quá trình điều tra làm rõ khi mua chiếc xe này do vợ chồng bị cáo không có chứng minh nhân dân nên nhờ em họ là Vàng A S đứng tên hộ nên giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy mang tên chủ sở hữu là Vàng A S. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe mô tô này là tài sản chung của hai vợ chồng bị cáo, bị cáo L đã sử dụng chiếc xe này làm phương tiện để đi mua ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, chị D vợ bị cáo không biết gì về việc bị cáo dùng chiếc xe này để đi mua ma túy, do vậy cần căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 213, 218, 219 Bộ luật Dân sự: Tịch thu ½ giá trị chiếc xe để nộp vào ngân sách Nhà nước; Trả lại cho chị Sùng Thị D ½ giá trị chiếc xe trên (kèm chìa khóa) và một giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Vàng A S.

Về án phí: Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí nên chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát và người bào chữa miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Giàng A L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Giàng A L 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 14/5/2020.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình; các Điều 213, 218, 219 Bộ luật Dân sự:

Tịch thu, tiêu huỷ 7,59 gam Methamphetamine.

Tịch thu ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen bạc, xe không có biển kiểm soát, số máy JC43E5962625, số khung 4324BY607765 để nộp ngân sách nhà nước;

Trả lại cho chị Sùng Thị D ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen bạc, xe không có biển kiểm soát, số máy JC43E5962625, số khung 4324BY607765 (Kèm chìa khóa) và 01 chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 005691, tên chủ sở hữu là Vàng A S.

Theo đối chiếu với giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy (mang tên Vàng A S) thu giữ của bị cáo khi bị cáo bị bắt thì chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE RSX màu đỏ đen bạc, số máy JC43E5962625, số khung 4324BY607765 có biển kiểm soát là 27S1-086.44.

Chi tiết các vật chứng trên được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/8/2020 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ