- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cáp Thanh S, giữ nguyên tội danh và hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2018/HS-ST ngày 24/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đối với bị cáo S như sau:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2018/HS-PT Ngày 28 - 8 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Đình Hiền
Các Thẩm phán:
Bà Vũ Thị Kim Anh
Ông Vũ Thành Long
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Sáu - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 39/2018/TLPT-HS ngày 29/5/2018 đối với bị cáo Cáp Thanh S, do có kháng cáo của bị cáo S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2018/HS-ST ngày 24 tháng 4 năm 2018 của Toà án nhân dân huyện A, tỉnh Hưng Yên.
Bị cáo có kháng cáo:
Cáp Thanh S, sinh năm 1967; nơi sinh và đăng ký HKTT: Thôn Tr, thị trấn A1, huyện A, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cáp Văn Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; có vợ là chị Nguyễn Thị P và có 03 người con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/10/2016 bị Công an huyện A xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; tạm giữ từ ngày 13/12/2017 đến ngày 19/12/2017 được thay thế bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo hiện đang tại ngoại "có mặt ".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1
Hồi 17 giờ ngày 13/12/2017, Công an huyện A cùng Công an xã H bắt quả tang Phạm Văn Q ở thôn G, xã H, huyện A đang bán số lô, đề cho Nguyễn Văn T ở thôn T1, xã H1, huyện A. Q khai ghi số lô, đề rồi chuyển bảng số lô, đề cho Cáp Thanh S, sinh năm 1967 ở thôn Tr, thị trấn A. Thu giữ trong người Q số tiền 1.876.000 đồng, 01 Ipad mini màu trắng, tại bàn chỗ ngồi của Q thu giữ 06 tờ giấy A4 bên trong có ghi số lô, số đề ký hiệu từ số 1 đến số 6, hai bút bi, 01 kéo cắt giấy, 01 thước kẻ có in chữ Bình Nguyên; thu giữ của Tĩnh 100.000 đồng, 01 mảnh giấy có kích thước (3,9 x 5,9)cm có ghi số và chữ, theo T khai đây là cáp đề do Q tự ghi.
Hồi 17 giờ 05 phút ngày 13/12/2017, Công an huyện A cùng Công an xã H2 kiểm tra hành chính phát hiện Đặng Thị Th, sinh năm 1963 ở thôn A2, xã H2, huyện A có hành vi ghi số lô, đề tại nhà. Th khai ghi số lô, đề rồi chuyển bảng số lô, đề cho Cáp Thanh S, sinh năm 1967 ở thôn Tr, thị trấn A1, huyện A để hưởng chênh lệch. Ngày 13/12/2017, Th chỉ nhớ đã bán cho Phí Văn Th1 ở cùng thôn các số đề 18, 81, 67, 34, 58, 92 với tổng số tiền là 60.000 đồng; bán số lô 14, 41 mỗi số 10 điểm, số lô 06, 60 mỗi số 5 điểm với tổng số tiền là 690.000 đồng cho một thanh niên khoảng 20 tuổi không biết lai lịch; bán số lô 22, 33 mỗi số 20 điểm với tổng số tiền 920.000 đồng cho một người phụ nữ không rõ lai lịch nhưng là khách quen, thường ghi ký hiệu là H3 để dễ nhớ. Công an huyện A đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Th và thu giữ các tài sản, đồ vật gồm: 01 quyển sổ có kích thước (20 x 29)cm, bìa sổ có ghi chữ “Sổ kế toán”, bên trong có ghi các số lô, số đề bán cho các người mua; 01 quyển sổ có kích thước (21 x 29)cm, bìa sổ có ghi chữ “Giáo án”, bên trong có ghi các số lô, số đề bán cho các người mua; 01 quyển sổ không bìa có kích thước (17 x 23,5)cm, bên trong ghi kết quả sổ số miền Bắc; 02 tờ giấy kẻ ô ly có kích thước (2 x 17)cm, 02 tờ giấy A4 có kích thước (21 x 30)cm có ghi các số lô, số đề bán cho các người mua ký hiệu chung là A4; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2 Prime màu vàng; 01 máy tính Casio màu đen bạc; 01 bút bi màu trắng xanh nhãn hiệu TL-Starled; thu giữ trên người Th số tiền 945.000 đồng.
Cùng ngày 13/12/2017, Công an huyện A bắt và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Cáp Thanh S, sinh năm 1967 ở thôn Tr, thị trấn A1, huyện A, quá trình khám xét thu giữ: 01 điện thoại Iphone 6 Plus màu bạc bên trong có lắp sim số 0967284886, một máy tính nhãn hiệu Casio màu bạc và số tiền 5.000.000 đồng; S khai điện thoại, máy tính và tiền dùng để thực hiện việc đánh bạc. Khi đang thi hành bắt và khám xét chỗ ở của S thì có Doãn Văn Th2 ở thôn Tr, thị trấn A2, huyện A đến nhà S để chuyển bảng ghi số lô, đề đã bị lập biên bản vi phạm hành chính và thu giữ của Thế 01 quyển sổ kẻ ngang có bìa màu vàng xanh nhãn hiệu Ngọc Xuân ký hiệu là H và số tiền 1.300.000 đồng. Th2 và S khai nhận đây là lần đầu tiên Th2 ghi số lô, số đề và chuyển bảng cho S.
2
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã thu thập mẫu chữ và số của Phạm Văn Q tại 03 tờ giấy ký hiệu B1, B2, B3; của Đặng Thị Th tại 03 tờ giấy ký hiệu T1, T2, T3; của Phí Văn L tại 02 tờ giấy ký hiệu M1, M2; của Doãn Văn Th2 tại 02 tờ giấy ký hiệu C1, C2 và ngày 18/12/2017.
Tại Kết luận giám định số: 23/PC54 ngày 18/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận:
- Phần viết có nội dung “Tổng 5810cs 105=8400/2590-3480 lấy cú 890 lô” được viết bằng mực xanh đậm không phải cùng một người viết ra so với các nội dung khác trên cùng tài liệu ký hiệu A4.
- 06 tờ giấy A4 được ký hiệu từ số 1 đến số 6, một cáp đề kích thước (3,9 x 5,9)cm thu giữ của Phạm Văn Q và 03 tờ giấy ký hiệu B1, B2, B3 do Phạm Văn Q ghi chữ và số là của cùng một người viết ra.
- 02 tờ giấy ký hiệu chung là A4 thu giữ của Đặng Thị Th và 03 tờ giấy ký hiệu T1, T2, T3 do Đặng Thị Th ghi chữ và số là của cùng một người viết ra.
- 01 quyển số ghi chép ký hiệu H thu giữ của Doãn văn Th2 và 02 tờ giấy ký hiệu C1, C2 do Doãn Văn Th2 viết chữ và số là của cùng một người viết ra.
- Chữ viết trong tờ giấy ô ly ký hiệu A4 thu giữ của Đặng Thị Th với chữ viết trên mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 do Phí Văn L viết là của cùng một người viết ra.
- Phần chữ viết ở tài liệu ký hiệu A4 có nội dung “Tổng 5810cs 105=8400/2590-3480 lấy cú, 890 lô” với chữ viết ở 03 tờ giấy ký hiệu T1, T2, T3 do Đặng Thị Th ghi chữ và số là của cùng một người viết ra.
Kết quả điều tra xác định: Khoảng tháng 3/2016, Cáp Thanh S đứng lên làm chủ ghi số lô, số đề cho các người chơi theo kết quả sổ xố kiến thiết miền Bắc. Sau đó, Phạm Văn Q, Đặng Thị Th và Doãn Văn Th2 đứng ra làm thư ký ghi số lô, đề của các người chơi rồi chuyển bảng cho S để ăn chênh lệch. S thống nhất với các thư ký về tiền chênh lệch được hưởng như sau: Đối với Q, S sẽ thu lại 74% tổng số tiền các người chơi đã mua số đề, lô xiên, ba càng và với số lô thường thì S sẽ thu 21.800 đồng/01 điểm lô; đối với Th, S sẽ thu lại 74% tổng số tiền các người chơi đã mua số đề, lô xiên, ba càng và với số lô thường thì S sẽ thu 21.900 đồng/01 điểm lô; đối với Th, S sẽ thu lại 75% tổng số tiền các người chơi đã mua số đề, lô xiên, ba càng và với số lô thường thì S sẽ thu 22.000 đồng/01 điểm lô. Hình thức chuyển và nhận số lô, số đề giữa S với Q, Th là chụp ảnh bảng số lô, số đề và chuyển qua ứng dụng Zalo đến tài khoản “Sơn Cát” của S, còn bảng số lô, số đề của Th2 thì chuyển trực tiếp cho S, thời gian chuyển bảng số lô, đề vào khoảng 18 giờ hàng ngày trước giờ mở thưởng kết quả sổ xố kiến thiết miền Bắc. Quá trình bán số lô, đề Q đã khuyến mại cho người chơi mua số đề, lô xiên, ba càng 10% nên lợi nhuận Q được thực hưởng là 16% tổng số tiền mà người chơi mua số đề, lô xiên, ba càng; Th cũng khuyến mại cho người chơi mua số đề, lô xiên, ba càng 20% nên lợi nhuận
3
Th được thực hưởng là 06% tổng số tiền mà người chơi mua số đề, lô xiên, ba càng; Th2 không khuyến mại cho người chơi mua số đề, lô xiên, ba càng nên lợi nhuận Th2 hưởng là 25% tổng số tiền mà người chơi mua số đề, lô xiên, ba càng; đối với số lô thường thì lợi nhuận của các đối tượng sẽ tùy thuộc vào việc các đối tượng bán 01 điểm số lô với giá bao nhiêu tiền.
Các đối tượng quy định cách thức chơi và tỷ lệ thắng thua với khách mua số lô, số đề như sau:
- Với số đề: Người mua đề chọn 01 số có 02 chữ số bất kỳ từ 00 đến 99, nếu số do người mua chọn trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt trong kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày hôm đó thì người mua được hưởng số tiền gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra.
- Với số lô thường: Người mua chọn 01 số có 02 chữ số bất kỳ từ 00 đến 99 và trả tiền mua lô, mỗi điểm lô tương ứng với 22.500 đồng, riêng ngày 13/12/2017 Th bán 23.000 đồng/01 điểm lô. Nếu con số do người mua chọn trùng với 02 số cuối của bất kỳ giải nào trong kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày hôm đó thì người mua sẽ được hưởng 80.000 đồng cho 01 điểm lô. Nếu số lô người mua chọn xuất hiện nhiều lần trong cơ cấu giải thưởng của kết quả sổ xố miền Bắc, thì lấy số lần xuất hiện của số lô đó nhân với 80.000 đồng sẽ ra số tiền trúng thưởng.
- Với số lô xiên 2, xiên 3, xiên 4: Người mua chọn 02 số có 02 chữ số bất kỳ từ 00 đến 99, nếu cả hai số do người mua chọn trùng với 02 số cuối của bất kỳ giải nào trong kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày hôm đó thì người mua sẽ được hưởng số tiền gấp 10 lần số tiền đã bỏ ra. Lô xiên 3 nếu trúng được trả thưởng gấp 40 lần và lô xiên 4 nếu trúng được trả gấp 100 lần.
- Đối với ba càng: Người mua chọn 01 số có 03 chữ số bất kỳ từ 000 đến 999, nếu số do người mua chọn trùng với 03 số cuối của giải đặc biệt trong kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc ngày hôm đó thì người mua được hưởng số tiền gấp 400 lần số tiền đã bỏ ra.
Ngày 13/12/2017, trước khi bị phát hiện bắt quả tang thì Phạm Văn Q đã bán số lô, đề cho các người chơi với tổng số tiền là 1.975.000 đồng, trong đó số tiền bán số đề, lô xiên, ba càng là 670.000 đồng, số tiền bán lô thường là 58 điểm x 22.500 đồng = 1.305.000 đồng; Đặng Thị Th đã bán số lô, đề cho các người chơi với tổng số tiền là 1.670.000 đồng, trong đó số tiền bán số đề, lô xiên, ba càng là 60.000 đồng, số tiền bán lô thường là 70 điểm x 23.000 đồng = 1.610.000 đồng; Doãn Văn Th2 đã bán số lô, số đề cho các người chơi với tổng số tiền là 2.915.000 đồng, số tiền bán số đề, lô xiên, ba càng là 125.000 đồng, số tiền bán lô thường là 124 điểm x 22.500 đồng = 2.790.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 13/12/2017 của Cáp Thanh S là: 5.525.400 đồng tiền bán số lô + 663.900 đồng tiền bán số đề = 6.189.300 đồng. Như vậy, số tiền hưởng lợi của các đối tượng tính đến khi bị bắt quả tang là: Q hưởng lợi 147.800 đồng, Th hưởng lợi là 80.600 đồng, Th2 hưởng
4
lợi là 65.600 đồng, do chưa có kết quả xổ số thì bị bắt giữ nên không xác định được số tiền hưởng lợi của S.
Điều tra mở rộng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã làm rõ hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề của Cáp Thanh S, Phạm Văn Q, Đặng Thị Thvà Phí Văn Long vào ngày 12/12/2017, cụ thể như sau:
Ngày 12/12/2017, Phạm Văn Q bán số lô, đề cho các người chơi được tổng số tiền là 3.771.500 đồng, trong đó số tiền bán số đề, lô xiên là 419.000 đồng, số tiền bán lô thường là 149 điểm x 22.500 đồng = 3.352.500 đồng, tổng số tiền Q chuyển cho S là 3.558.200 đồng. Sau đó Q dùng máy tính bảng nhãn hiệu Ipad mini màu trắng chụp ảnh bảng số lô, số đề ngày 12/12/2017 rồi chuyển đến tài khoản “Sơn Cát” của S trên ứng dụng Zalo, khi nhận được bảng số lô, số đề S nhắn lại cho Q với nội dung là “OK”. Kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 12/12/2017, người chơi trúng thưởng 44 điểm lô thường x 80.000 đồng = 3.520.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền tham gia đánh bạc ngày 12/12/2017 của Phạm Văn Q là 3.771.500 đồng + 3.520.000 đồng = 7.291.500 đồng, của S là 7.078.200 đồng. Số tiền Q được hưởng lợi là 171.300 đồng, số tiền S được hưởng lợi là 38.200 đồng.
Đặng Thị Th bán số lô, số đề cho các người chơi được tổng số tiền là 15.805.000 đồng, trong đó số tiền bán số đề, lô xiên là 5.185.000 đồng, số tiền bán lô thường là 472 điểm x 22.500 đồng = 10.620.000 đồng, tổng số tiền Th chuyển cho S là 14.173.700 đồng. Đến khoảng gần 18 giờ cùng ngày, Phí Văn L đến nhà Th, Th nhờ L chép các số lô, số đề mà trước đó Th đã bán cho các người chơi vào 01 tờ giấy kẻ ô ly kích thước (12x17)cm, mặc dù biết đó là các số lô, số đề mà Th đánh bạc với các người chơi khác nhưng L vẫn đồng ý chép theo sự hướng dẫn của Th và đưa lại cho Th với tổng số tiền số lô, số đề đã ghi chép là 5.810.000 đồng. Sau đó, Th dùng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J2 Prime chụp ảnh bảng số lô, số đề do L vừa chép cùng với bảng số lô, số đề do Th tự ghi rồi chuyển đến tài khoản “Sơn Cát” của S trên ứng dụng Zalo, khi nhận được bảng số lô, số đề, S nhắn lại cho Thu với nội dung là “OK”. Kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết miền Bắc ngày 12/12/20917, người chơi mua số lô trúng thưởng 134 điểm x 80.000 đồng = 10.720.000 đồng, trong đó bảng số lô, số đề do L chép người chơi mua số lô trúng thưởng 95 điểm x 80.000 đồng = 7.600.000 đồng; người chơi mua số đề trúng thưởng 48.000 đồng x 70.000 đồng = 3.360.000 đồng, trong đó bảng số lô, số đề do L chép không có người trúng thưởng số đề; tổng số tiền người chơi trúng thưởng ngày 12/12/2017 là 14.080.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc ngày 12/12/2017 của Th là 15.805.000 đồng + 14.080.000 đồng = 29.885.000 đồng, của S là 28.253.700 đồng. Số tiền Th được hưởng lợi là 594.300 đồng, số tiền S được hưởng lợi là 93.700 đồng.
Như vậy, tổng số tiền đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề ngày 12/12/2017 của Cáp Thanh S là 7.078.200 đồng + 28.253.700 đồng = 35.331.900 đồng; số tiền S được hưởng lợi là 131.900 đồng.
5
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2018/HS-ST ngày 24/4/2018, Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Hưng Yên đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Cáp Thanh S phạm Tội đánh bạc.
Căn cứ khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 2 Điều 7, Điều 17, Điều 58, điểm s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Cáp Thanh S 09 tháng tù, được trừ 06 ngày tạm giữ, còn phải chấp hành 08 tháng 24 ngày tù, thời gian tính từ ngày thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn quyết định áp dụng pháp luật về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Đặng Thị Th, Phạm Văn Q và Phí Văn L, xử lý vật chứng, quyết định tiền án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03 tháng 5 năm 2018 bị cáo Cáp Thanh S có đơn kháng cáo xin cải tạo tại địa phương.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị cáo S giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận diễn biến thực hiện hành vi đánh bạc bằng làm chủ lô, đề trực tiếp nhận bảng của Phạm Văn Q, Đặng Thị Th là các thư ký đề vào ngày 12 và 13/12/2017 nhận bảng của Q, Th, Th2, còn trước đó bị cáo không nhớ được. Bị cáo S thừa nhận đã bị Tòa án nhân dân huyện A xét xử về Tội đánh bạc là đúng, không oan. Tuy nhiên, bị cáo S đề nghị cấp phúc thẩm xem xét bị cáo có chú ruột là người nuôi dưỡng bị cáo từ bé là liệt sỹ hiện nay bị cáo đang thờ cúng; có bố vợ, cô ruột được khen thưởng huân, huy chương và hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ ốm đau; bị cáo là lao động chính nên đề nghị được cải tạo tại địa phương để có điều kiện giúp đỡ gia đình.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm: Tại phiên tòa bị cáo S đã khai nhận đầy đủ về hành vi đánh bạc bằng hình thức làm chủ lô, đề từ đầu tháng 3/2017 đến ngày 13/12/2017 bị bắt. Xét hành vi đánh bạc của bị cáo và đồng phạm là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm hoạt động công cộng và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo đầy đủ tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình trách nhiệm hình sự, đã xem xét đánh giá về vai trò, nhân thân của bị cáo và phạt Cáp Thanh S 09 tháng tù về tội đánh bạc là phù hợp. Bị cáo S là chủ lô, đề, phạm tội nhiều lần được chứng minh hành vi đánh bạc vào ngày 12 và 13/12/2017 nên không đủ điều kiện để được cải tạo tại địa phương. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự bác kháng cáo của bị cáo S, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm; các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
6
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Bị cáo Cáp Thanh S kháng cáo trong thời hạn quy định của pháp luật là hợp pháp.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Cáp Thanh S thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và lời khai tại cơ quan điều tra; đồng thời phù hợp vật chứng thu giữ khi Công an huyện A bắt, khám xét tại nơi ở của bị cáo; các chứng cứ thu giữ khi bắt quả tang các đồng phạm Phạm Văn Q, Đặng Thị Th là thư ký lô, đề đang bán số lô, số đề cho người khác và chuyển bảng lô, đề cho bị cáo S vào các ngày 12 và 13/12/2017; lời khai của đồng phạm Phạm Văn Q, Đặng Thị Th, Doãn Văn Th giúp sức cho các bị cáo thực hiện đánh bạc, cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 12/12/2017 Cáp Thanh S thực hiện hành vi đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền với tổng số tiền là 35.331.900 đồng và ngày 13/12/2017 Cáp Thanh S đánh bạc với tổng số tiền là 6.189.300 đồng. Bởi hành vi nêu trên, bị cáo Cáp Thanh S cùng 03 đồng phạm khác đã bị Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm và áp dụng hình phạt về Tội đánh bạc, theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo Cáp Thanh S, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo và các đồng phạm là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội và sự bất bình trong dư luận nhân dân tại địa phương. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội, đồng thời còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác; gây thiệt hại về kinh tế, làm ảnh hưởng đến hạnh phúc, kinh tế của nhiều gia đình mà trước tiên là chính gia đình của bị cáo và đồng phạm.
Bị cáo Cáp Thanh S tuy không có tiền án, tiền sự nhưng nhân thân không tốt, ngày 20/10/2016 bị Công an huyện A xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; chỉ trong một khoảng thời gian ngắn bị cáo đã 02 lần thực hiện đánh bạc vào ngày 12 và 13/12/2017 mà mỗi lần đều đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là "Phạm tội nhiều lần" cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 là chính xác. Khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng vị trí, vai trò trách nhiệm của bị cáo trong vụ án và áp dụng đầy đủ cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; có chú ruột trực tiếp nuôi dưỡng bị cáo là liệt sỹ mà bị cáo đang là người thờ cúng; bị cáo có bố vợ được tặng huy hiệu 40 năm tuổi đảng, vợ ốm, điều kiện hoàn cảnh khó khăn được địa phương xác nhận để áp dụng điểm x, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật
7
hình sự năm 2015, phạt bị cáo Cáp Thanh S 09 tháng tù là phù hợp, có căn cứ, đúng pháp luật và đã có sự chiếu cố đối với bị cáo. Sau phiên tòa sơ thẩm bị cáo có giao nộp giấy chững nhận cô ruột được tặng huy chương chiến sỹ vẻ vang, đây cũng chỉ là tình tiết giảm nhẹ khác của tình tiết giảm nhẹ khác theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Đối chiếu hình phạt của Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vẫn đảm bảo quyền lợi của bị cáo, nên không thể giảm nhẹ hơn nữa. Xét bị cáo S phạm tội nhiều lần, không đủ điều kiện để được áp dụng án treo theo Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về áp dụng án treo. Do vậy, kháng cáo của bị cáo Cáp Thanh S không có căn cứ chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe phòng ngừa tội phạm chung. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa có căn cứ được chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Án phí: Bị cáo Cáp Thanh S kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Cáp Thanh S, giữ nguyên tội danh và hình phạt của Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2018/HS-ST ngày 24/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đối với bị cáo S như sau:
Tuyên bố: Bị cáo Cáp Thanh S phạm Tội đánh bạc.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009; điểm c khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 2 Điều 7; Điều 17; Điều 58; điểm s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Cáp Thanh S 09 (chín) tháng tù, được trừ 06 (sáu) ngày tạm giữ, còn phải chấp hành hình phạt 08 (tám) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù, thời gian tính từ ngày thi hành án.
2. Án phí: Bị cáo Cáp Thanh S phải chịu 200.000đ, (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
8
3. Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT I – TAND tối cao; - VKSND tỉnh Hưng Yên; - Phòng HSNVCS-CA tỉnh Hưng Yên; - VKSND huyện A; - TAND huyện A; - Công an huyện A; - Chi cục THADS huyện A; - Bị cáo Cáp Thanh S; - Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HC; VP. CÁC THẨM PHÁN Vũ Thành Long Vũ Thị Kim Anh 9 10 11 | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Đình Hiền THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Hiền |