- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình K và đồng phạm - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình K, Hoàng Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Nguyễn Quang C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2025/HS-ST Ngày: 25-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Bắc, Bà Hà Thị Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân khu vực 8 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Đình K, sinh ngày 08 tháng 5 năm 1997 tại Hải Dương nay là Hải Phòng. Căn cước công dân số: 030097007476.
Đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại số 5 Đ, phường T1, thành phố H, tỉnh Hải Dương nay là số 5 Đ, phường L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình Đ2 và bà Nguyễn Thị B; tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 06/6/2025 chuyển tạm giam từ ngày 12/6/2025 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương nay là Trại tạm giam số 2, Công an thành phố Hải Phòng (có mặt tại phiên tòa).
2. Hoàng Văn T, sinh ngày 10 tháng 02 năm 1991 tại Hải Dương nay là Hải Phòng. Căn cước công dân số: 030091015478.
Đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại số 5/155 Đ1, phường T2, thành phố H, tỉnh Hải Dương nay là số 5/155 Đ1, phường T2, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Minh H1 và bà Vũ Thị T3; tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ từ ngày 06/6/2025 chuyển tạm giam từ ngày 12/6/2025 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương nay là Trại tạm giam số 2, Công an thành phố Hải Phòng (có mặt tại phiên tòa).
3. Nguyễn Quang C, sinh ngày 16 tháng 6 năm 1993 tại Hải Dương nay là Hải Phòng. Căn cước công dân số: 030093004913.
Đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại số 272 N, phường T4, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương nay là số 272 N, phường L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Phạm Thị M; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Quyết định số 270/QĐ-XPHC ngày 03/8/2018 của Trưởng Công an thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, nộp phạt ngày 06/8/2018.
Bị tạm giữ từ ngày 06/6/2025 chuyển tạm giam từ ngày 12/6/2025 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương nay là Trại tạm giam số 2, Công an thành phố Hải Phòng (có mặt tại phiên tòa).
Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn T5 (vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Đình K, Hoàng Văn T và Nguyễn Quang C là bạn quen biết nhau từ trước và đều là người sử dụng chất ma túy.
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 05/6/2025, Nguyễn Văn T5 (là bạn của K) đến nhà K ở số 5 Đ, phường T1, thành phố Hải Dương (nay là phường L, thành phố Hải Phòng) chơi. Khoảng 20 giờ 55 phút cùng ngày, khi T5 ngồi chơi điện tử thì K sử dụng tài khoản messenger “Tũn Tí Hon” trên điện thoại Vivo Y30 lắp sim số 0865.344.404 gọi điện, nhắn tin đến tài khoản messenger “Hoàng T” của T hỏi “có biết chỗ mua ma túy không”, T bảo “để hỏi xem”. Sau đó, T sử dụng điện thoại Iphone 11 Promax, màu trắng lắp sim số 0967.757.885 liên lạc với số điện thoại 0989.265.454 của Nguyễn Quang C để hỏi mua ma túy, C đồng ý bán 01 túi ma tuý loại Methamphetamine cho T với số tiền 500.000đ và hẹn T đi đến khu vực giếng Nghè Nhội thuộc phường T4, thành phố Hải Dương (nay là phường L, thành phố Hải Phòng) để giao ma túy.
Thống nhất xong, T sử dụng ứng dụng messenger gọi điện bảo K đến nhà để chở T đi mua ma tuý, còn C đi xe ôm của 01 người không quen biết đến khu vực cầu Đồng Niên thuộc phường Việt Hoà, thành phố Hải Dương (nay là phường Việt Hòa, thành phố Hải Phòng) tìm mua ma túy mang về bán lại cho T để kiếm lời. Tại đây, C gặp và mua được 01 túi nilon màu trắng có nẹp cài viền màu đỏ, kích thước (2x2)cm bên trong có chất tinh thể màu trắng (là ma tuý loại Methamphetamine) của 01 người không quen biết với số tiền là 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng). C cất giấu túi ma tuý mua được rồi đi xe ôm đến khu vực giếng Nghè Nhội. Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, K điều khiển xe máy hiệu Yamaha Exciter biển kiểm soát 34AA-359.57 màu xanh đen chở T đến khu vực giếng Nghè Nhội gặp C. Tại đây, C đưa 01 túi nilon màu trắng có nẹp cài viền màu đỏ, kích thước (2x2)cm bên trong có chất tinh thể màu trắng cho T, T đưa cho K, sau khi kiểm tra xác định là ma tuý tổng hợp, K đưa lại cho T rồi sử dụng tài khoản 30968204631 mở tại Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) chuyển số tiền 500.000đ đến tài khoản 662661993 Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB) của C rồi rủ T về nhà K để sử dụng ma tuý, T đồng ý. Khi về đến nhà K, T5 vẫn đang ngồi chơi điện tử trong phòng, T đưa cho K túi ma túy, K lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy trong hộp để ra nền nhà, đổ ma túy vào coóng thủy tinh, T lấy giấy bạc trong bao thuốc lá quấn thành đầu đốt gắn vào bật lửa rồi hơ nóng coóng làm ma tuý tan chảy để K và T sử dụng bằng hình thức hít trực tiếp vào cơ thể. Khi đó, T bảo T5 “chơi đi” ý là rủ T5 cùng sử dụng ma tuý, T5 đồng ý rồi T châm lửa cho T5 sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, khi K, T, T5 đang sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dương (nay là Công an thành phố Hải Phòng) phối hợp với Công an phường T kiểm tra, thu giữ tại nền phòng ngủ, cạnh giường của K: 01 chai nhựa hình trụ đường kính đáy 4,5cm, cao 11cm, trên thân chai có quấn băng dính đen, nắp chai có đường kính 4,0cm, có 02 lỗ tròn - đều có đường kính 0,5cm, 01 lỗ gắn với ống hút nhựa màu tím - vàng dài 30cm, đường kính 0,5cm; 01 coóng thủy tinh dài 7,0cm, đường kính 0,5cm, 01 đầu hình bầu có đường kính 1,5cm, trên bầu có 01 lỗ tròn có đường kính 0,5cm, bên trong có chất muội màu đen và chất muội màu trắng bám dính; 01 túi nilon có nẹp cài viền màu đỏ, kích thước (2x2)cm bên trong có bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 bật lửa ga màu vàng nối với 01 đầu đốt bằng giấy bạc dài 04cm. K, T và T5 khai nhận đây là bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, K tự nguyện giao nộp 01 điện thoại hiệu Vivo Y30, vỏ màu xanh, bên trong lắp sim số 0865.344.404, T tự nguyện giao nộp 01 điện thoại hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, lắp sim số 0967.757.885 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương.
Khoảng 11 giờ 55 phút ngày 06/6/2025, sau khi biết T và K bị bắt, C đến Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dương (nay là Công an thành phố Hải Phòng) đầu thú và khai nhận việc: C bán cho T 01 túi ma túy loại Methamphetamine với giá 500.000đ vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/6/2025 tại khu vực giếng Nghè Nhội, phường T4, thành phố Hải Dương (nay là phường L, thành phố Hải Phòng) và tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, lắp sim số 0989.265.454.
Tại Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 05/6/2025 và ngày 06/6/2025 của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Hải Dương xác định: Hoàng Văn T, Nguyễn Văn T5 Nguyễn Đình K, Nguyễn Quang C dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đình K ở số 5 Đ, phường T, thành phố Hải Dương và chỗ ở của Nguyễn Quang C tại số 272 N, phường T4, thành phố Hải Dương: Thu giữ 01 xe máy Yamaha Exciter màu xanh đen biển kiểm soát 34AA-359.57 của K.
Tại Kết luận giám định số 358/KL-KTHS ngày 08/6/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận:
- Quá trình giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu chất màu trắng lẫn màu đen bám dính bên trong bầu coóng thủy tinh, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1 gửi đến giám định. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
- Mẫu chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ, được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2, gửi đến giám định, là ma túy; loại: Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.
Hoàn lại đối tượng giám định gồm:
- 01 (Một) coóng thủy tinh và 01 (Một) vỏ phong bì ký hiệu M1 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1.
- 01 (Một) vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ và 01 (Một) vỏ phong bì ký hiệu M2 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Được niêm phong trong phong bì ký hiệu T2.
Đối tượng giám định được hoàn lại trong 02 (Hai) phong bì ký hiệu T1, T2 đều niêm phong số: 358/KL-KTHS.
Về vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng, lắp sim số 0967.757.885 của T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, lắp sim số 0989.265.454 của C; 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y30, vỏ màu xanh, lắp sim số 0865.344.404 và 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu xanh-đen, biển kiểm soát 34AA-359.57 của K; 01 hộp bìa cát tông ký hiệu M3 bên trong có: 01 chai nhựa hình trụ có đường kính đáy 4,5cm, cao 11cm, trên thân chai có quấn băng dính màu đen, nắp chai có đường kính 4,0cm, trên nắp chai có 02 lỗ tròn đều có đường kính 0,5cm; 01 ống hút nhựa màu tím - vàng dài 30cm, đường kính 0,5cm; 01 bật lửa gas màu vàng, 01 đầu đốt bằng giấy bạc dài 04cm; 02 phòng bì ký hiệu T1, T2 đều niêm phong số 358/KL-KTHS, bên trong là các đối tượng giám định được hoàn lại. Hiện đang được quản lý tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Hải Phòng chờ xử lý theo quy định.
Tại Cáo trạng số 33/CT-VKSKV8 ngày 09/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng truy tố các bị cáo Nguyễn Đình K, Hoàng Văn T về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự (viết tắt: BLHS) năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Nguyễn Quang C về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và công nhận nội dung, tội danh, điều luật như Cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố Nguyễn Đình K, Hoàng Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Nguyễn Quang C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Nguyễn Đình K, Hoàng Văn T.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Nguyễn Quang C.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/6/2025.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 07 năm 06 tháng đến 07 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/6/2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang C từ 27 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/6/2025.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, b, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (viết tắt: BLTTHS); khoản 5 Điều 9 và điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông năm 2023.
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp bìa cát tông ký hiệu M3, bên trong có: 01 chai nhựa hình trụ có đường kính đáy 4,5cm, cao 11cm, trên thân chai có quấn băng dính màu đen, nắp chai có đường kính 4,0cm, trên nắp chai có 02 lỗ tròn đều có đường kính 0,5cm; 01 ống hút nhựa màu tím - vàng dài 30cm, đường kính 0,5cm; 01 bật lửa gas màu vàng, 01 đầu đốt bằng giấy bạc dài 04cm; 01 phòng bì niêm phong số 358/KL-KTHS bên trong có 02 phong bì ký hiệu T1, T2; bên trong T1 có: 01 coóng thủy tinh và 01 vỏ phong bì ký hiệu M1 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định, bên trong T2 có: 01 vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ và 01 vỏ phong bì ký hiệu M2 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh; 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y30, vỏ màu xanh.
- Tịch thu tiêu hủy 03 sim điện thoại 0967.757.885, 0989.265.45, 0865.344.404. Yêu cầu nhà mạng viễn thông thu hồi 03 số thuê bao và tịch thu nộp ngân sách số tiền trong 03 tài khoản thuê bao trên (nếu có). Tịch thu của Nguyễn Quang C số tiền 500.000đ nộp ngân sách nhà nước.
- Trả lại 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu xanh-đen, biển kiểm soát 34AA-359.57 cho Nguyễn Đình K.
Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của các bị cáo: Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 05/6/2025, tại khu vực giếng Nghè Nhội, phường T4, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương nay là phường L, thành phố Hải Phòng; Nguyễn Quang C bán trái phép 01 túi ma túy loại Methamphetamine cho Hoàng Văn T và Nguyễn Đình K với số tiền là 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).
Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 05/6/2025, tại phòng ngủ của Nguyễn Đình K ở tầng 2, nhà số 5 phố Đ, phường T1, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương nay là phường L, thành phố Hải Phòng; K lấy bộ dụng cụ đã chuẩn bị từ trước, đổ túi ma tuý loại Methamphetamine mà K và T mua được của C vào trong coóng thuỷ tinh rồi T dùng bật lửa hơ nóng coóng thuỷ tinh để K, T và Nguyễn Văn T5 sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị tổ công tác thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dương (nay là Công an thành phố Hải Phòng) phối hợp với Công an phường T (nay là phường L) phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định pháp luật. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo K, T nhận thức và biết hành vi cung cấp địa điểm, ma túy, dụng cụ để hai bị cáo và Nguyễn Văn T5 sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi phạm tội của các bị cáo Hoàng Văn T, Nguyễn Đình K đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung phạm tội “Đối với 02 người trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với bị cáo Nguyễn Quang C có hành vi bán trái phép 01 túi ma túy loại Methamphetamine cho Hoàng Văn T và Nguyễn Đình K. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo C đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét thấy, tại điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS quy định không có lợi cho người phạm tội tại Điều 251 của BLHS được sửa đổi, bổ sung tại khoản 18 Điều 1 của Luật này thì không áp dụng đối với những hành vi xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025 mà sau thời điểm đó đang bị truy tố, xét xử, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật về hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025 để giải quyết.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý đối với bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, bị cáo C đã tự nguyện trình diện, khai báo với cơ quan chức năng là trường hợp đầu thú do đó cần áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ TNHS tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo C có nhân thân xấu từng bị xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy năm 2018.
Đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo K, T có tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó K là người đề xuất, trực tiếp cùng T là những người thực hành tích cực do đó K có vai trò cao hơn T. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, và các quy định của BLHS, thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa C trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về vật chứng:
Đối với:
- 01 (Một) coóng thủy tinh và 01 (Một) vỏ phong bì ký hiệu M1 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Được niêm phong trong phong bì ký hiệu T1.
- 01 (Một) vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ và 01 (Một) vỏ phong bì ký hiệu M2 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Được niêm phong trong phong bì ký hiệu T2.
- 01 (Một) hộp bìa cát tông ký hiệu M3 bên trong có: 01 chai nhựa hình trụ có đường kính đáy 4,5cm, cao 11cm, trên thân chai có quấn băng dính màu đen, nắp chai có đường kính 4,0cm, trên nắp chai có 02 lỗ tròn đều có đường kính 0,5cm; 01 ống hút nhựa màu tím - vàng dài 30cm, đường kính 0,5cm; 01 bật lửa gas màu vàng, 01 đầu đốt bằng giấy bạc dài 04cm.
- Các sim điện thoại số 0967.757.885, 0989.265.454, 0865.344.404.
Là các công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Đối với: Số tiền 500.000đ của C là tiền do phạm tội mà có; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu trắng của T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh của C; 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y30, vỏ màu xanh của K là các công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền trong tài khoản thuê bao di động của các số điện thoại 0967.757.885, 0989.265.454, 0865.344.404 (nếu có). Yêu cầu đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông thu hồi số viễn thông nêu trên theo khoản 5 Điều 9 và điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông năm 2023.
Đối với 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu xanh-đen, biển kiểm soát 34AA-359.57 do không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần trả lại bị cáo Nguyễn Đình K theo điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS.
Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
Về tố tụng và các vấn đề khác: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên đều hợp pháp.
Không làm rõ được tên, tuổi, địa chỉ người đàn ông đã bán trái phép 01 túi ma túy cho Nguyễn Quang C; không xác định được thời gian, địa điểm C sử dụng trái phép chất ma tuý; Nguyễn Văn T5 không bàn bạc, trao đổi, không tham gia chuẩn bị dụng cụ, chất ma tuý nên không có căn cứ để xử lý. Ngày 02/9/2025, Công an thành phố Hải Phòng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Đình K, Hoàng Văn T, Nguyễn Văn T5.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Nguyễn Đình K, Hoàng Văn T.
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với Nguyễn Quang C.
Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, b, c khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 5 Điều 9 và điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông năm 2023; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đình K, Hoàng Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Nguyễn Quang C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình K 07 (bẩy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/6/2025.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/6/2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang C 27 (hai mươi bẩy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 06/6/2025.
3. Về vật chứng:
3.1. Tịch thu và tiêu hủy:
- 01 (Một) coóng thủy tinh và 01 (Một) vỏ phong bì ký hiệu M1 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Được niêm phong trong phong bì số 358/KL-KTHS ký hiệu T1.
- 01 (Một) vỏ túi nilon màu trắng viền khóa màu đỏ và 01 (Một) vỏ phong bì ký hiệu M2 niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Được niêm phong trong phong bì niêm phong số 358/KL-KTHS ký hiệu T2.
- 01 hộp bìa cát tông, đặc điểm bên trong có: 01 (Một) chai nhựa hình trụ có đường kính đáy 4,5cm, cao khoảng 11cm, trên thân chai có quấn băng dính màu đen, nắp chai có đường kính khoảng 4,0cm, trên nắp chai có 02 (hai) lỗ tròn đều có đường kính khoảng 0,5cm; 01 (Một) ống hút nhựa màu tím - vàng dài khoảng 30cm, đường kính khoảng 0,5cm; 01 (Một) bật lửa gas màu vàng, 01 (Một) đầu đốt bằng giấy bạc dài 04cm. Được niêm phong trong hộp bìa cattong có kích thước khoảng 14x16x18cm, dùng tem niêm phong có chữ ký của những người tham gia và đóng dấu của Công an phường T dán kín các mép của họp bìa cattong. Ký hiệu M3.
3.2. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone loại 11 Promax, màu trắng, có số Imei: 353901103730125 của Hoàng Văn T; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, loại 11 Promax, màu xanh, số sê ri: FK1ZJ40SN70J của Nguyễn Quang C; 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, loại Vivo Y30, vỏ màu xanh, (điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong), có số Imei1: 861497056969450, số Imei2: 861497056969443 của Nguyễn Đình K (các điện thoại đều đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, do thời gian bảo quản lâu nên bị hỏng không bật được màn hình); số tiền 500.000đ của Nguyễn Quang C (chưa nộp).
3.3. Tịch thu tiêu hủy các sim điện thoại số 0967.757.885, 0989.265.454, 0865.344.404, tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền trong tài khoản thuê bao di động của các số điện thoại này (nếu có). Yêu cầu đơn vị cung cấp dịch vụ viễn thông thu hồi các số viễn thông 0967.757.885, 0989.265.454, 0865.344.404.
3.4. Trả lại Nguyễn Đình K 01 xe máy ghi nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh-đen, biển kiểm soát 34AA-359.57, số khung: RLCUG1210MY034601, số máy: G3M5E049514, tình trạng: đã qua sử dụng.
(Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Hải Phòng ngày 24/9/2025).
4. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Đình K, Hoàng Văn T, Nguyễn Quang C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân KV8 - Hải Phòng; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hải Phòng; - Cơ quan CSĐT Công an TP. Hải Phòng; - Cơ quan THAHS Công an TP. Hải Phòng; - Phòng THADS KV8 - Hải Phòng; - Trại tạm giam số 2, Công an TP Hải Phòng; - Các bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Diệu Linh |